Posted in NHƯ MỘT MÓN QUÀ, Sưu tầm & Gìn giữ

Nguyễn Trọng Tạo – Một đời làm thơ và… chia…!

“Đôi mắt Đò ngang” đã vĩnh viễn khép lại, “Đồng dao cho người lớn” sẽ không bao giờ còn được chính cái giọng hơi khê khê đậm âm sắc Nghệ ấy cất lên. Dòng Sông quê đã đón ông về, mãi mãi.

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã ra đi chiều muộn ngày 7/1/2019, sau 1 năm dài chống chọi với cơn tai biến cùng căn bệnh ung thư. Một kết cục đã biết, nhưng vẫn làm tất cả độc giả, khán thính giả, bạn văn, người hâm mộ ông đau đớn bàng hoàng.

Chắc chắn, dù công chúng biết đến ông nhiều hơn với tư cách một nhạc sỹ của những ca khúc vấn vương các làn điệu dân ca từ quan họ Bắc Ninh, chèo, tới dân ca Nghệ An quê ông, Nguyễn Trọng Tạo vẫn trước hết và vĩnh viễn là một Nhà Thơ, một nhà thơ từ trong máu thịt, trong cốt cách. Và giờ đây khi ông đã ra đi, có thể nói mà không hề sợ thậm xưng:

Thơ của ông là thơ của một người lính xuất thân từ làng quê, nó mộc mạc, khỏe khoắn và say đắm. Nhưng càng về sau, thơ ông càng vượt lên trên những từ đẹp vần đắt, vượt lên những day dứt yêu đương thuờng nhật, nó là thứ tình yêu. Hướng đến sự tinh khiết và vĩnh hằng. Đọc thơ ông, lúc nào cũng thấy có tình yêu, nhưng không chỉ là như vậy. Như là định mệnh đời ông, mà ông đã tự bạch từ 30 năm trước…

Chia cho em một đời tôi
một cay đắng,
Một niềm vui
Môt buồn…
Chia cho em một đời say
một cây si
Với
Một cây bồ đề
Tôi còn đâu nữa đam mê
Trời chang chang nắng tôi về héo khô
Chia cho em một đời
Thơ
Một lênh đênh
Một dại khờ
Một tôi
Chỉ còn có mọc bên trời
Một bông hoa nhỏ lặng rơi mưa dầm

(Chia. 1989)

Thơ ông đau đời, một chuyện thời sự thật nhỏ cũng làm ông đau, nhưng ông không làm “thơ nhật trình” như nhiều bạn thơ. Bất cứ một một nỗi đau thế sự nào vào thơ ông cũng được chưng cất qua trái tim để thành những vần thơ mà ai cũng có lần phát hiện mình đang lẩm nhẩm một mình:

Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời
Có câu trả lời biến thành dấu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi
có cả đất trời mà không nhà ở
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
Mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
Có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi”

(Đồng dao cho người lớn.1992)

Bất cứ một một nỗi đau thế sự nào vào thơ ông cũng được chưng cất qua trái tim để thành những vần thơ. (Ảnh: Nguyễn Đình Toán)

Cũng có những khi, vì quá đau đớn, xót thương đồng bào mình, nỗi đau của một “người mang gene Tố Như” mà ông hét lên trực diện.

“Có thể thay quan, không thay được nhân dân
Thay tên nước, không thay được Tổ quốc
những sự thật khó tin mà có thật
Không thể thay quan, dù quan đã thành sâu!
quan thành dòi đục khoét cả đất đai
Vòi bạch tuộc ăn dần biển đảo
đêm nằm mơ thấy bển Đông hộc máu
những oan hồn xô dạt tận Thủ đô…
Ôi những ông quan không dân trên chót vót đỉnh trời
có nhận ra tôi đang kêu gào dưới đáy
có một tỷ tôi sao ông không nhìn thấy?
Vì tôi vẫn là người mà ông đã là sâu?…”

(Nhân dân)

Nhưng rồi bền bỉ hơn lặng lẽ lại quay về thương mến, hàm ơn, thương xót. Thương người, thương bạn, thương thân, thương đời…

“Đêm cộng lại nợ nần
thấy mình hóa kiến
cái chốn nương thân bạn bè thương mến
cao tít sáu tầng trời
ở đây tôi nghe tiếng cười mặt đất

tiếng kẻng leng keng đúng giờ gọi: Rác!

tiếng rao bán chiếu gon tiếng khóc trẻ lạc đường
cầu thang bước chân người
khe khẽ trở về trời
đêm hôm khuya khoắt
quán mặt tiền thương tôi khi có khách
cho sẵn số “phôn”
anh bạn làm quan xa lâu năm
gọi điện thoại cầm tay từ ngã tư tìm ngõ
em tiếp thị thả xà bông qua cửa
con tôi đi học về xe đạp sáu tầng thang
ôi ngày tháng gian nan
tôi như kiến gặp mưa bò nhanh về tổ
ở trên cao biết mình là con nợ
khi nước dưới đất nâu thương nhớ chảy lên trời!”

(Nương thân-1999)


Giới văn nghệ có câu cửa miệng “văn nghệ không có Tạo-Kha thì buồn.” Nguyễn Trọng Tạo cùng người bạn chí cốt của mình là Nguyễn Thụy Kha đã từ hơn 30 năm nay tự nhận lấy vai trò “bày những cuộc vui” cho đời nghệ sỹ vốn không mấy vui ở một xứ mà đồng nhuận bút luôn là nỗi ám ảnh bữa cơm của các gia đình văn nhân nghèo như nước mình.

Ông Tạo cùng với những người bạn của mình như ông Ngô Thảo, ông Thụy Kha luôn nghĩ ra đủ các sân chơi lớn bé cho các nhà văn nhà thơ nhạc sỹ họa sỹ. Nhưng cuộc gặp gỡ nho nhỏ, những chuyến đi, những diễn đàn trực diện hay trên báo, trên tạp chí…

Cả đời chỉ có “chức vụ” cao nhất là Trưởng ban thơ của báo văn nghệ, nhưng ông đã tìm kiếm để đăng bao nhiêu ngàn bài thơ của các cây bút trẻ mà ông hy vọng đãi cát tìm vàng được một tài năng trẻ, ông không nề hà vẽ minh họa tạp chí Âm nhạc, cũng bất chấp lời ngăn cản hay thị phi mà xông vào vẽ “cờ thơ,” vẽ “biểu tượng ngày thơ Việt Nam.” Tất cả những việc ông làm ngoài thơ nó đều nghiệp dư thậm chí vụng về. Nhưng sau hết, những người tiếp xúc với ông, đọc thơ ông, hưởng thụ cái sự tổ chức rất nghiệp dư nhận ra cái tình nghệ sỹ mênh mông, sâu thăm thẳm của người đàn ông sinh ra để làm thơ này dành cho mình- điều mà rất nhiều bộ máy công kềnh tiêu tốn ngân sách và tiền thuế lẽ ra phải làm nhưng chẳng bao giờ làm được.

Nếu ai đó còn chút xíu hoài nghi về cái “tình người thơ” của ông Tạo, chắc là vì chưa nghe ông đọc thơ …người khác. (Ảnh: Nguyễn Đình Toán)Nếu ai đó còn chút xíu hoài nghi về cái “tình người thơ” của ông Tạo, chắc là vì chưa nghe ông đọc thơ… người khác. Trong mọi cuộc gặp bạn bè, thế nào ông cũng tìm được cơ hội để bắt mọi người nghe một bài thơ ông mới đọc của một nhà thơ trẻ nào đó: Lê Trúc Anh, Văn Cầm Hảo, Đoàn Ngọc Thu, Đặng Thanh Hương, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh… ngày xưa hay bao nhiêu tên tuổi mới bây giờ, ông đều “quảng bá” ở bất cứ chỗ nào có người chịu nghe thơ.

Cũng như thế, ông thuộc thơ bạn, thơ ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông Kha, ông Thanh Thảo, ông Ngô Minh … ông thuộc nằm lòng. Bạn cao hứng đọc thơ mà quên mất thì ông lên tiếng đọc giùm rất hồn nhiên. Lại còn bình luận, nhấn nhá. Ở cái môi trường mà người ta vẫn bảo “không ai chịu đọc của ai, ai cũng thấy mình là nhất” thì cái sự thuộc thơ, thẩm thơ và bình thơ người khác hồn nhiên nồng nhiêt như ông Tạo quả thực có một ý nghĩa lớn hơn nhiều cái sự “đọc và thuộc.”

Sự “quên mình” của Nguyễn Trọng tạo còn có một dấu ấn đặc biệt trong ca ca khúc của ông.

Là người làm thơ hay đến thế, khi viết bài hát, ông hầu như toàn phổ thơ… người khác. Làng quan họ quê tôi – bài hát bất hủ làm nên tên tuổi Nguyễn Trọng Tạo từ thuở 20 ông phổ thơ Nguyễn Phan Hách. Còn “Khúc hát sông quê,” “Nghệ Tĩnh ca” mới của người Nghệ xa xứ toàn thế giới được ông phổ thơ Lê Huy Mậu. Hỏi ông sao thế? Ông cười hiền thật hiền “vì thơ của người ta hay!”

Ông Tạo mất rồi, bao nhiêu người sực nhớ ra những câu thơ hay nhất mình từng đọc lúc buồn nhất là của ông, bao nhiêu người xa xứ bất chợt bâng quơ lẩm nhẩm một câu hát ‘quá nửa đời phiêu dạt, con lại về úp mặt vào sông quê…”.Còn tôi, tôi nhớ một chiều rất lâu rồi trên sông Hương, có một người đàn ông xứ Nghệ mặc một chiếc áo lính đã rất bạc, ngồi đọc cho một lũ đầu xanh tuổi trẻ nghe thơ Hoàng Cầm: “ Ông Cầm lớn lắm, Việt Nam lắm, tình lắm. Đọc ông Cầm lúc nào tôi cũng thấy tôi trong ấy “ta-con chào mào khát nước-về vườn xưa hạt nhãn đã đâm mầm” có lẽ tôi cũng về vườn xưa lúc quá muộn mất rồi’.

Vĩnh biệt Nguyễn Trọng Tạo, vĩnh biệt Người cả đời làm Thơ để… Chia!

Nguyễn Trọng Tạo (sinh 1947) là nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo, họa sĩ vẽ bìa sách Việt Nam; nguyên Trưởng ban biên tập báo Thơ thuộc Báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) từ 2003-2004. Ông là tác giả của những tập thơ, trường ca như Đồng dao cho người lớn, Nương Thân, Thế giới không còn trăng, Con đường của những vì sao (Trường ca Đồng Lộc), những bài hát Làng Quan Họ quê tôi, Khúc hát sông quê, Đôi mắt đò ngang, tác giả Biểu tượng Ngày thơ Việt Nam, cờ thơ.

Nguyễn Trọng Tạo sáng tác bài thơ đầu tiên năm 14 tuổi, sáng tác bài hát đầu tiên năm 20 tuổi, xuất bản tập thơ đầu tiên (Tình yêu sáng sớm, in chung cùng Nguyễn Quốc Anh) năm 1974. Cho đến năm 2008, ông đã xuất bản gần 20 đầu sách gồm thơ, văn, nhạc, phê bình tiểu luận và đoạt nhiều giải thưởng văn học nghệ thuật.

________________________

Bài: Thu Hà

Thiết kế mỹ thuật: Thanh Trà

Link: http://special.vietnamplus.vn/nguyen-trong-tao

Advertisements
Posted in Kim Dung phiếm luận, TRÊN KỆ SÁCH

Kim Dung – Hành trình viên mãn khởi từ vô minh

 

15 bộ “Kim Dung chân phẩm”, không phải bộ nào cũng xứng đáng được xem là tuyệt tác. Trong những bộ được nhắc tên nhiều nhất, cũng không phải không có cảnh độc giả trung thành say đắm Lộc đỉnh ký hay Tiếu Ngạo giang hồ mà xem nhẹ Tuyết Sơn Phi Hồ hoặc Thiên Long Bát Bộ.

15 bộ ấy, bắt đầu từ 1972, Kim Dung mất 10 năm để sửa chữa, kiện toàn từ những bản thảo in nhật trình (feuilleton), với sự hỗ trợ của không ít “cao thủ”, ngõ hầu xác lập lại kết cấu và bố cục cho thật chặt chẽ.

Éo le thay, không phải nỗ lực trau chuốt gọt giũa nào trong số ấy cũng được độc giả tán đồng và đón nhận nồng nhiệt như kỳ vọng. Ta hãy thử đơn cử một ví dụ: Số phận của Du Thản Chi ở Thiên Long Bát Bộ. Sau khi chỉnh sửa, Kim Dung quyết định để nhân vật phản diện ấy gieo mình xuống sườn Nhạn Môn Quan theo ý trung nhân A Tử, kết thúc một cuộc đời tội nghiệt bị giằng xé giữa thù hận xương tủy và tình yêu mù quáng. Nhưng, ở bản thảo trước đó, Du Thản Chi không chết. Kim Dung bắt y – mù lòa và không còn võ công – phải một mình lê lết nốt quãng đường đời còn lại. Ông không cần miêu tả quãng đời ấy sẽ nhục nhã ê chề đến mức độ nào. Độc giả hoàn toàn có thể tự liên tưởng. Và với rất nhiều người, cái dư vị cay đắng ấy mới “đã”, mới là hình phạt xứng đáng dành cho kẻ tiểu nhân đê tiện sẵn sàng nhận giặc làm cha, mang tâm ngồi trộm phương vị võ lâm, hoành hành ngang ngược. Chứ còn một cái chết đơn thuần thì lại là quá nhạt nhẽo.

Thế nhưng, như Trần Mặc – chuyên gia hàng đầu ngành Kim học (Jinology) – từng nhận xét trong cuốn Võ hiệp ngũ đại gia: “Chí ít cũng có thể nói rằng Kim Dung rất thận trọng và rất có trách nhiệm, khi dừng lại đúng lúc để cố gắng gọt giũa tác phẩm. Sự thành tâm ấy là điều đáng quý hiếm thấy trong các tác gia võ hiệp”.

Và nếu đặt nỗ lực này cạnh những thành tựu của Cổ Long – người đến giờ vẫn còn được so hơn so kém với Kim Dung bởi các thế hệ độc giả, sự khác biệt là hoàn toàn rõ rệt. Cổ Long viết nhanh, viết khỏe, viết ào ạt dễ dàng như thác đổ. Theo danh mục Cổ Long toàn tập của Châu Hải xuất bản xã, trong 25 năm sáng tác, Cổ Long đứng tên tới 69 bộ tiểu thuyết võ hiệp.

Song, khoan hãy bàn đến chất lượng hay chiều sâu, trong số đó không ít bộ có đầu mà không cuối (hoặc phần cuối phải do người khác chấp bút). Có nhiều bộ bút pháp và kết cấu lặp lại nhau y hệt. Cũng có những bộ đến giờ chẳng còn mấy ai nhớ tên. Câu đối nổi tiếng viếng ông: “Tiểu Lý phi đao thành tuyệt hưởng; Nhân gian bất kiến Sở Lưu Hương” gần như đã là sự cô đọng đầy đủ các đỉnh cao của “Cổ đại hiệp”.

Dĩ nhiên, vì nhiều lý do, ông chẳng bao giờ có thời gian cũng như điều kiện để chỉnh sửa dung mạo cho những đứa con tinh thần của mình như Kim Dung. Và dĩ nhiên, bởi vậy, Cổ Long chưa bao giờ thử tự mình “lên thêm một tầng lầu”, để truy cầu sự hoàn hảo. Thậm chí, ông còn chưa kịp dừng nghỉ, để lắng lại và gạn lọc chính những ước vọng của mình bao giờ. Cho dù, chính ông là người được Kim Dung “chọn mặt gửi vàng”, giao lại vị trí của mình trên mặt báo.

Bản Thần điêu Hiệp lữ do TVB thực hiện năm 1983 với Lưu Đức Hoa và Trần Ngọc Liên.

Nếu đọc Thư kiếm ân cừu lục (viết năm 1955, với những ảnh hưởng rõ ràng của không khí “tụ nghĩa” trong Thủy Hử) đầu tiên, rồi đọc Bích huyết kiếm (viết năm 1956, với những mối liên kết mang tính phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử cụ thể), cũng khó để tin rằng chỉ đến năm 1957, Kim Dung đã có thể làm nên một Xạ điêu Anh hùng truyện ở một tầm vóc hoàn toàn khác, tầm vóc mà giới phê bình văn học kiếm hiệp (đang chịu ảnh hưởng rất lớn từ phong cách Lương Vũ Sinh) phải hạ bốn chữ: “Chân mệnh thiên tử”.

Ngộ nạn – đoạt bảo – phục cừu, cái motif quen thuộc ấy đã được triển khai cao rộng hơn hẳn, với một nhân vật chính chẳng nhận được bất cứ ưu đãi nào về mặt thiên tư, nhưng cuối cùng vẫn vươn cao lồng lộng bằng tư tưởng của một hiệp khách giúp nước cứu đời, xả thân vì nghĩa, và được tôn bật lên bằng cả một bối cảnh riêng đặc trưng của võ lâm giang hồ kỳ ảo. Một Dumas của phương Đông đã chính thức xuất hiện.

Tuy nhiên, đến khi phong bút bằng Lộc Đỉnh ký, Vi Tiểu Bảo không còn mang chút hơi hướng tương đồng nào với Quách Tĩnh nữa. Y, một trong những nhân vật được yêu thích nhất dưới ngòi bút Kim Dung, đã thoát xác hoàn toàn khỏi chữ “hiệp”. Kẻ tiểu nhân đắc chí bất cố vô sỉ ấy chính là kết tinh của cả sự giễu nhại thâm thúy sâu cay lẫn những trăn trở về văn nghiệp của Kim Dung, suốt 15 năm. Xin lưu ý, 15 năm đó, Kim Dung không chỉ là một tác gia võ hiệp. Ông còn là một nhà báo, một cây bút bình luận thời sự quốc tế hàng đầu Hong Kong.

Từ Quách Tĩnh đến Vi Tiểu Bảo, Kim Dung không ngừng truy cầu, không ngừng thử nghiệm, không ngừng tránh xa khỏi con đường mà chính mình đã từng đi qua, đặc biệt là về mặt tư tưởng. Nếu Dương Quá của Thần điêu hiệp lữ hay Hồ Phỉ (Tuyết Sơn Phi Hồ và Phi Hồ ngoại truyện) có thể xem là những biểu tượng của chủ nghĩa tự do cá nhân, thì Trương Vô Kỵ (Ỷ Thiên Đồ Long ký) lại là một sự tìm về với thế nhân thường tình. Nếu Địch Vân là tận cùng u ám, là bước đột phá đầu tiên phủ nhận chữ “hiệp” trong nỗi hoang mang “đời là bể khổ”, thì Tiêu Phong, Đoàn Dự và Hư Trúc là những cố gắng đi tìm sự giải thoát nhuốm màu Thiền. Nếu Thạch Phá Thiên của Hiệp khách hành là tuyên ngôn “Nhân đáo vô cầu phẩm tự cao”, thì Lệnh Hồ Xung của Tiếu Ngạo giang hồ là tiếng kêu tuyệt vọng của lương tri giữa những ẩn dụ về các ván cờ địa chính trị gió tanh mưa máu. Xuyên suốt hành trình đó, Kim Dung lật đi lật lại chính nhân sinh quan của mình. Và chính là bởi vì luôn luôn tự vấn như vậy, ngọn bút của ông cũng luôn luôn đặc sắc.

Trước ông và cả sau ông, thế giới võ hiệp không có nhiều nhân vật chính đầy khiếm khuyết đến vậy. Quách Tĩnh khù khờ, Dương Quá ích kỷ, Trương Vô Kỵ ủy mị, Kiều Phong bế tắc, Thạch Phá Thiên mù chữ, Vi Tiểu Bảo đê tiện…thảy đều không giống với những hình tượng mang tính ước lệ thập toàn thập mỹ quen thuộc. Đến cả Trần Gia Lạc cũng quá lụy tình. Đến cả Viên Thừa Chí cũng quá đa đoan.

Và Địch Vân. Gã trai làng bị đẩy vào giang hồ, bị vùi dập, bị tàn hại, bị tước đoạt tất cả những gì thân yêu nhất, vô tình nhận tuyệt kỹ mà chỉ mong chạy trốn khỏi giang hồ, cuối cùng cũng đành chạy trốn khỏi giang hồ.

Và Hồ Phỉ. Trang cuối Tuyết Sơn Phi Hồ, câu chuyện trăm năm để ngỏ. Một đao chém xuống đầu cha của người yêu bên miệng vực, thế nào là đúng? Thế nào là sai?

Trần Mặc gọi hành trình ấy của Kim Dung qua 17 năm và 15 tác phẩm là hành trình đi từ “Hiệp” qua “Phi hiệp” đến “Phản hiệp”. Nhưng có lẽ không chỉ vậy. Khi tiến lên và kể cả lúc dừng lại, Kim Dung đi tìm một thái độ sống cho chính mình. Trên con đường đó, qua những thể nghiệm, ông (cả vô tình và hữu ý) mang được đặc trưng văn hóa truyền thống Trung Hoa vào ngọn bút, để rồi trở thành một trong những nhà văn có ảnh hưởng lớn nhất đến độc giả toàn cõi Á Đông.

Chỉ một đoạn Tổ Thiên Thu luận tửu trong Tiếu Ngạo giang hồ thôi, đã là sự kết đọng của bao nhiêu trầm tích. Và sẽ là thừa thãi nếu phải nhắc lại ở đây bao nhiêu danh vị, bao nhiêu hào quang, bao nhiêu lời xưng tụng suốt chừng ấy thập kỷ.

Có điều, danh vọng hẳn không phải là mục đích cuối cùng mà Kim Dung hướng tới. Nếu thực sự coi trọng danh tiếng của mình trên văn đàn kiếm hiệp (hoặc hơn thế, trên tư cách là một tiểu thuyết gia nói chung), ông đã không từ bỏ cuộc chơi sớm đến như vậy. Xuất phát điểm là nghề nuôi thân, kết thúc là cách bộc bạch tâm tư trước dâu bể, tiểu thuyết kiếm hiệp với Kim Dung, xét cho cùng, chỉ là một phương tiện.

Tuy nhiên, ông không bao giờ vô trách nhiệm với phương tiện ấy. Khi chọn dừng lại, ở Lộc Đỉnh ký – tác phẩm mà ông mất tới ba năm để hoàn tất (1969-1972), độc giả hiểu rằng ông khó có thể vượt qua được chính mình nữa. Và như vậy, thay vì cố cưỡng cầu để tự làm hoen ố danh tiếng của mình bằng những sản phẩm dưới tầm trên mặt báo, ông bỏ thêm 10 năm cho một quá trình hoàn thiện lần cuối.

Dù thành dù bại, đó cũng là sự biểu hiện phẩm cách của một bậc thức giả. Dù dở dù hay, đó cũng là cánh cửa giải thoát ông khỏi chính cái khung “minh chủ văn đàn kiếm hiệp” mà ông phải mang.

Cổ Long kế thừa vị trí của ông trên Minh báo với Lục Tiểu Phụng, như ông đã từng kế thừa Lương Vũ Sinh. Kể từ đó, ông thanh thản làm một Tra Lương Dung với lời nói mang sức nặng “cửu đỉnh”, không chỉ quanh Hong Kong mà vào tận đại lục. Một điểm dừng, một sự thoát xác. Một tâm thế thanh thản trong vòng xoáy cuộc đời, như hai câu thơ cổ ông mang vào Thư kiếm ân cừu lục ngày khởi bút:

“Đem quân trăm vạn Tây Hồ ruổi

Dừng ngựa Ngô Sơn ngắm núi sông…”

_________________________

Tác giả: Đông Phong

Thiết kế mỹ thuật: Thanh Trà

Bài viết đăng trên Vietnam Plus

Link: http://special.vietnamplus.vn/kimdung

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Vỹ thanh

Ngày chưa giông bão

NGÀY CHƯA GIÔNG BÃO

Nhạc và lời: Phan Mạnh Quỳnh

Ca sĩ: Bùi Lan Hương

Vì ta yêu nhau như cơn sóng vỗ

Quẩn quanh bao năm không buông mặt hồ

Thuyền anh đi xa bờ thì em vẫn dõi chờ

Duyên mình dịu êm thơ rất thơ

*

Và anh nâng niu em như đóa hoa

Còn em xem anh như trăng ngọc ngà

Tự do như mây vàng mình phiêu du non ngàn

Dẫu trần gian bao la đến đâu nơi anh là nhà

*

Khi anh qua thung lũng, và bóng đêm ghì bàn chân,

Đời khiến anh chẳng còn nhiều luyến lưu, em mong lau mắt anh khô

Ta yêu sai hay đúng, còn thấy đau là còn thương

Khi bão qua rồi biết đâu sẽ.. đi tới nơi của ngày đầu, hết muộn sầu.

*

Lạc bước giữa những đam mê tăm tối

Liệu máu vẫn nóng nơi tim bồi hồi?

Người năm xưa đâu rồi, lạnh băng tiếng khóc cười

Anh ở nơi xa xôi vô lối.

Mặt đất níu giữ đôi chân chúng ta

Thì bay lên trong cơn mơ kỳ lạ

Ở đó anh vẫn là người yêu thương chan hòa

Dẫu trần gian cho anh đắng cay nơi em là nhà…

__________

… nhiều khi, chỉ muốn một điều, muốn tha thiết, hơn tất cả, là được cùng Vân và Anh chia sẻ với nhau bản nhạc, chia sẻ với nhau cảm xúc, chia sẻ với nhau nụ cười và chia sẻ cả những mệt mỏi, muộn phiền …

Posted in Kim Dung phiếm luận, TRÊN KỆ SÁCH

Kim về với Cổ, cạn một hồ trường

Khi Kim Dung tạ thế, tên tuổi của Cổ Long – đã qua đời cách đây 34 năm – cũng được nhắc lại. Bởi vì làm sao có thể nói/viết về Kim mà quên đi Cổ, với chiếc gạch nối Minh Báo.

Tác phẩm của cả hai bao trùm toàn bộ thế giới võ hiệp. Nhiều người vì yêu Kim mà ghét Cổ, cũng chẳng ít người vì mê Cổ mà hạ thấp Kim. Nhưng ngày Kim tạ thế, người ta tin rốt cục cả hai cũng đã có thể vứt bỏ những phiền muộn cả đời đeo mang, để cùng nhau cạn một hồ trường.

Kiếm hiệp, đầu tiên và trên hết, là phương tiện để Kim Dung và Cổ Long bộc bạch lòng mình. Khát vọng lập danh, tình yêu và tình bạn. Ngày Kim Dung lập Minh báo, sinh kế luôn là vấn đề thúc bách. Ông vừa phải làm chủ bút, làm biên tập rồi kim luôn người viết. Ông viết xã luận và viết feuilleton kiếm hiệp để thu hút độc giả. Ông bảo mỗi ngày đều phải nuốt ít nhất 7.000 chữ, liên tục suốt 20 năm không dứt, đến nhiều lúc cơm nuốt không nổi.

Cổ Long cũng chọn nghiệp viết để lập danh. So với một Kim Dung xuất thân danh gia, học hành bài bản, vẻ ngoài ưa nhìn, Cổ Long tướng mạo tầm thường, cao chỉ 1,56 mét, đầu to như đấu, mắt nhỏ miệng rộng, đến tuổi trung niên lại còn phát phì. Đã xấu trai lại còn thất học, Cổ Long bỏ học từ rất sớm, lăn lộn mưu sinh. Điều đó khiến Cổ Long dù thông minh và tài hoa nhưng luôn mang đầy tự ti, mặc cảm. Bởi vậy nhân vật của Cổ Long ai cũng phong tư tài mạo tót vời, vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa. Chính là để bù trừ cho người viết ngoài đời vậy.

Xuyên suốt gần một trăm bộ tiểu thuyết võ hiệp của hai người (Kim Dung 15, Cổ Long gần 70), tất cả đều tập trung bày tỏ nỗi lòng trăn trở của cả hai về nhân sinh. Như những gì đã được Nguyễn Bá Trác ghi lại từ một khúc ca Trung Hoa, rồi đặt tên là Hồ Trường:

“Miên miên mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.
Rót về Tây phương, mưa Tây rơi từng trận chứa chạn
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nào ai tỉnh, nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.”

Năm 1972, không lâu sau khi đăng kỳ cuối cùng của Lộc Đỉnh Ký trên Minh Báo, Kim Dung tuyên bố phong bút, vì biết đã đạt đến đỉnh cao của nghề viết tiểu thuyết. Nhưng vì mục feuilleton kiếm hiệp trên Minh Báo đã ăn khách quá lâu, gần như là mục đinh của tờ báo, Kim Dung đã âm thầm tuyển lựa người thay thế mình, để giữ cho tờ báo không mất đi sức hút.

Trần Mặc, trong phần trích đầu sách “Đa tình kiếm khác vô tình kiếm”, thuật lại câu chuyện như sau:

Khi Kim Dung viết thư tay gửi cho Cổ Long, đấy không chỉ là một lá thư thuần túy của một chủ bút dành cho một người viết để mời cộng tác, mà còn là động thái truyền lại ấn tín của võ lâm minh chủ. Vu Đông Lâu, cộng sự của Cổ Long ngày ấy, cho biết Cổ Long hờ hững nhờ mình bóc thư, xem tay nào từ Hồng Kông lại đi gửi thư cho mình. Đến khi biết là Kim Dung, Cổ Long giật ngay thư lại, xem như báu vật. Đọc xem thư, bần thần nằm dài trên sofa hồi lâu mới ngồi dậy, vì không thể tin đấy là sự thật. Cổ Long đã được Kim Dung thừa nhận. Và để xứng đáng lòng tin của võ lâm minh chủ, Lục Tiểu Phụng truyền kỳ đã được Cổ Long dồn nhiêu tâm huyết, đăng dài kỳ từ 1972 đến 1976 mới hết.”

Sau đó, Cổ Long viết cho Kim Dung, giữa họ là những bức thư. Tình bạn vong niên giữa hai con người khác nhau xa lắc về xuất thân, địa vị xã hội thật đẹp. Kim Dung là bác học, nhưng chưa từng coi thường kẻ mang sở học tạp nham Cổ Long. Cổ Long kiêu ngạo dễ tổn thương, nhưng với Kim Dung luôn trước kính sau quý. Cũng bởi Kim Dung đã đi đến tận cùng nghệ thuật tiểu thuyết bác học, Cổ Long đã nghĩ ra con đường riêng cho mình, để vượt thoát khỏi người đàn anh vĩ đại. Nói cách khác, Cổ Long không hoàn toàn kế thừa y bát của Kim Dung, mà tự mình bước ra, khai sơn lập phái.

 

Truyện của Kim Dung lẫn Cổ Long nói lên rất rõ sự khác biệt như mặt trăng và mặt trời của cả hai. Điều đó dễ giải thích vì sao fan của người này lại thường không mê được người kia.

Kim Dung, sau khi phong bút, có hai lần dụng công sửa chữa toàn bộ bản thảo của mình. Cổ Long sau khi viết, như chính ông thừa nhận, hoàn toàn không có nhu cầu đọc lại. Kim Dung nghiêm túc với tác phẩm của mình bao nhiêu, Cổ Long vô trách nhiệm bấy nhiêu. Bởi vì Kim Dung luôn trăn trở, nghiền ngẫm khi tỉnh táo. Cổ Long lại chỉ làm việc ấy khi say. Một bên là triết gia, một bên là nghệ sĩ.

Kim Dung viết câu văn thường rất dài. Văn của ông như một lộ thái cực kiếm, kết thúc chiêu này là khởi đầu chiêu khác, ý nối ý, tình kết tình, cứ thế mà liên miên bất tuyệt. Câu văn của Cổ Long lại rất ngắn. Nhịp điệu nhanh, dồn dập như một bộ phim hành động, trinh thám. Kim Dung là danh gia kiếm thuật, Cổ Long là cao thủ ám khí. Ngay cả nhân vật ưng ý nhất của đời Cổ Long – Lý Tầm Hoan – cũng là một bậc thầy về ám khí, với ngọn Tiểu Lý Phi Đao. Và cái tên Tầm Hoan ấy cũng vận vào đời Cổ Long. Cả một đời tìm kiếm niềm vui.

Tình yêu trong Kim Dung thuần phác đôn hậu, chưa nhuốm mùi sắc dục. Quách Tĩnh – Hoàng Dung bên nhau một bước không rời, tình ý miên mang nhưng chưa một lần vượt vòng lễ giáo. Với cả giang hồ, Tiểu Long Nữ có thể đã mất trinh. Nhưng Dương Quá mang nàng trong tim, như một vị hôn thê băng thanh ngọc khiết. Lệnh Hồ Xung trước yêu Linh San, sau yêu Doanh Doanh, giữa đường ăn ngủ cùng với đám tăng ni phái Hằng Sơn, tuyệt chưa một lần nghĩ đến chuyện trên bộc trong dâu. Đoàn Dự, bị ép uống âm dương hòa hợp tán, cho vào trong một phòng với Mộc Uyển Thanh, lửa dục thiêu đốt tâm trí, người bên cạnh lại xinh như ngọc, nhưng thà chết không xâm hại đối phương. Rồi chính chàng sau đó đã yêu và si mê Vương Ngữ Yên như nữ thần. Giữa cái giếng khô, đôi bên hiểu lòng nhau, toàn bộ chân tình dành cho Mộ Dung Phục, nay trao hết cho chàng. Vậy mà tuyệt đối không có màn “hãy ngồi xuống đây, hôn nhau lần này”. Tình yêu đã vượt lên tình dục rất xa.

Cổ Long thì khác. Tác phẩm của ông ngập tràn sắc dục. Nhân vật chính của Cổ Long tuyệt đại đa số là phường đam mê tửu sắc, giết người không gớm tay, chơi gái không gớm… khúc này đã phá vỡ sự nghiêm trang của bài viết, xin lỗi độc giả. Đàn bà trong truyện Kim Dung thanh cao dịu vợi, đàn bà trong Cổ Long dâm tà trá ngụy. Trong vấn đề tình yêu và tình dục, Kim lại rất cổ, còn Cổ lại rất kim.

Trong uống rượu, Kim Dung là dân sành sỏi, biết thưởng thức, mượn chén rượu để trò chuyện. So với Tổ Thiên Thu – bậc thầy thẩm rượu, đám nhân vật chính của Cổ Long chỉ là nhũng đệ tử của Lưu Linh không hơn không kém. Kim Dung dùng rượu để kết giao, Cổ Long dùng rượu để quên sầu. Người ta nói ngày Cổ Long chết, đám bạn chí cốt không mang hoa đến, mà mỗi ông vác một chai Hennessy, cứ thế mà rót xuống mồ, rồi lại mang 48 chai khác chôn theo Cổ Long, tượng trưng cho 48 năm sống trên đời, cùng lời phúng điếu bi thương: “Tiểu Lý Phi Đao thành thất truyền, nhân thế hết gặp Sở Lưu Hương.”

Kiến thức của Kim Dung rất rộng, của Cổ Long rất hẹp. Nếu như tài hoa của Kim Dung đi theo con đường phát huy sở trường thì Cổ Long đích thị là hạn chế sở đoản. 

Nhân vật của Kim Dung dẫu cho bị ràng buộc rất nhiều bởi lễ giáo và các khái niệm anh hùng nhưng vẫn ung dung khoái hoạt, càng về sau tư tưởng tự do càng mạnh. Nhân vật Cổ Long thoạt nhìn tự do, kỳ thực luôn bị mắc kẹt với quá khứ lẫn hiện tại. Nhân tại giang hồ, thân bất do kỷ.

Kim Dung luôn cho cho nhân vật của một “backstory” rất mạnh. Anh là con ai, học nghệ ở đâu, quá khứ thế nào, tình đầu ra sao? Sau khi đã có backstory đủ mạnh, Kim ném nhân vật vào tiểu thuyết, để họ tự tìm hiểu ý nghĩa của cuộc đời. Và vì đã có quá khứ lẫn hiện tại, Kim Dung chẳng thể quản tương lai của họ được nữa. Như trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Kim Dung rất thích để cho Trương Vô Kỵ thành đôi với Tiểu Chiêu, cô gái mà ông yêu nhất. Nhưng rốt cục, Trương giáo chủ vẫn từ bỏ giang hồ, về vẽ lông mày cho Triệu Mẫn.

Vì nhân vật của Kim Dung có đời sống riêng, nên họ rất sống động. Và ta luôn nhìn thấy chính mình, ở phần đời của một nhân vật đó. Phụ nữ có lẽ sẽ đồng cảm với Nhạc Linh San thật nhiều, khi nàng từ bỏ “anh trai mưa” Lệnh Hồ Xung để về với tình yêu đích thực của mình: Lâm Bình Chi. Cuộc sống là những lựa chọn. Và dẫu chọn sai, vẫn không có gì hối hận. Đến chết, Nhạc Linh San cũng chỉ cầu xin anh trai mưa chu toàn cho anh yêu của mình. Giây phút ấy, Lệnh Hồ Xung hoàn toàn rũ bỏ được tình yêu đầu thuần khiết, để dành trọn con tim cho Doanh Doanh. Còn nếu trong những giây cuối cùng, Nhạc Linh San lại chuyển sang giọng hối hận, xin lỗi Lệnh Hồ đại ca, hãy tha thứ cho tiểu muội, thì Lệnh Hồ Xung có lẽ chưa thể hoàn toàn quên nàng được. Mối tình giữa chàng và Doanh Doanh tất nhiên vẫn còn một vết gợn, khúc Tiếu Ngạo chưa thể toàn mỹ.

Trong lúc nhân vật của Kim Dung nhân thân rõ ràng, Nhân vật của Cổ Long lai lịch bất minh, là những vì sao lẻ loi trên trời. Khi thế sự giang hồ mở ra, họ đã ở đó với nỗi cô đơn muôn thuở. Nếu Kim Dung là bậc thầy của blockbuster, Cổ Long lại đi theo dòng art-house. Nhân vật của ông hành động và di chuyển, nhưng chẳng biết đi đâu, về đâu. Họ thủy chung không xử lý những mối quan hệ xã hội phức tạp. Dường như cuộc đời của họ chỉ có hai trạng thái: say xỉn và tỉnh táo, sinh tồn và tử vọng. Họ uống rượu thật mạnh, dùng binh khí thật sắc. Họ tiêu diệt kẻ thù trên một hành trình tự diệt.

Bổi cảnh của Kim Dung bao la hùng vĩ, đa dạng thú vị. Độc giả mê Kim Dung sao thể có thể quên được những đại cảnh choáng ngợp: Quang Minh Đỉnh, núi Hoa Sơn, Nhạn Môn Quan, ngọn Thiếu Thất, thành Tương Dương… Kim Dung ném những số phận nhỏ bé vào bối cảnh vĩ đại, như để làm nổi bật sự tương phản của đời người trước số mệnh. Cổ Long thì trước sau chỉ kéo nhân vật của mình vào những chỗ thật nhó bé, chật hẹp: quán rượu, tửu điểm. Nếu có núi thì cũng chỉ là ngọn, nếu có Tử Cấm Thành thì cũng chỉ là nóc nhà.

Những hiệp khách của Kim Dung hành động quang minh, lỗi lạc. Những trận chiến kinh tâm động phách nhất đều diễn ra vào ban ngày, dưới ánh mặt trời. Trong khi đó, hiệp khách của Cổ Long thuộc về màn đêm. Có lẽ vì ban đêm người ta mới… nhậu. A Phi là con sói dưới đêm trăng, Tây Môn Xuy Tuyết là tảng băng dưới trăng, Lý Tầm Hoan là kẻ si tình dưới trăng. Những trận đánh kinh điển của Cổ Long đều diễn ra dưới ánh nguyệt.

Ôn Thụy An khẳng định: “Địa vị của Kim Dung và Cổ Long, tuyệt đối là song song”. Sự so sánh, đối chiếu là điều không thể tránh khỏi trong những ngày này. Kim và Cổ, ai giỏi hơn? Các nhân vật trong truyện Kim Dung, ai giỏi nhất, ai đẹp nhất? Có lẽ chính Kim Dung cũng chẳng có… tư cách để trả lời. Vì như chính ông nói, nhân vật có đời sống và số phận của riêng họ. Chúng ta tuyệt đối chẳng có quyền can dự vào.

Phán xét làm cho con người đau khổ. Kim Dung bị người vợ đầu phụ rẫy, lại đi phụ rẫy người vợ thứ hai, kết hôn với người vợ thứ ba kém mình 30 tuổi. Sau khi phong bút tưởng sống đời khoái hoạt ung dung như Lệnh Hồ Xung, rốt cục cũng chỉ chuốc thêm nhưng ê chề của nhân thế. Con trai đầu treo cổ tự vẫn năm 19 tuổi, con gái thứ bị sốt mà điếc cả hai tai. Nhân thế bảo Kim Dung chỉ vĩ đại trên trang sách, nhưng quá tầm thường giữa đời thực.

Cổ Long một đời đau khổ vì đàn bà, sinh ra hận đàn bà, vùi đầu vào bia rượu. Bỏ địa vị của một tiểu thuyết gia, Kim Dung còn là một nhà lịch sử, nhà ẩm thực học, sinh vật học, nhà nghiên cứu lịch sử… Bỏ địa vị ấy, Cổ Long có lẽ là một ma men thất bại toàn tập. Nhưng dù là bác học như Kim Dung hay thất học như Cổ Long, ở giai đoạn cuối đời họ cũng đã ngộ ra thế nào là tri túc.

Cuộc đời đầy những muộn phiền, chỉ có những khoảnh khắc hạnh phúc và những sát na an ủi. Khi ta biết thỉnh thoảng, ở tận cùng khổ đau, vẫn có người đến bên ta, cùng cạn một hồ trường.

 

______________________

Tác giả: Bình Bồng Bột

Bài viết đăng trên fb cá nhân của tác giả, và trên Vietnam Plus

Link: http://special.vietnamplus.vn/kimdung_colong?fbclid=IwAR02N6-5MW9aazXOuITSOKkhvrJXUkRfzoEcOBYjpm8kWkl1H7Aa7Q-tnIc

Posted in Cà phê và sách, TRÊN KỆ SÁCH

Yếm hồng giữ ngọc minh châu

… Ông chờ cô trong một quán nhỏ, nâu trầm, bình dị nhưng tinh tế, ẩn mình sau hàng cây trứng cá, nằm cuối phố cổ.

Những bản tình ca Nga, theo yêu cầu đặc biệt của ông, được bật nhè nhẹ vừa đủ nghe.

Quán vắng. Chiều muộn. Vài tia nắng cuối ngày len qua vòm lá, đậu lại trên miệng ly thủy tinh hắt xuống mặt bàn tạo thành một vòm cầu vồng nhàn nhạt.

Cô đến.

Thời gian 20 năm cơ hồ không đủ làm cô thay đổi. Vóc dáng ấy. Khuôn mặt ấy. Mái tóc ấy. Nụ cười ấy. Vẫn như xưa. Cả đôi mắt tinh anh, trong veo, nghịch ngợm cùng cái cách cô nghiêng đầu một thời làm ông thao thức cũng chẳng mảy may thay đổi.

Nắm lấy bàn tay nhỏ của cô, tim ông bồng bềnh, chênh chao vài nhịp.

Thức ăn lần lượt được mang ra.

Súp củ cải đỏ. Trứng cá muối. Bánh mì đen.  Một ít phô mai xông khói. Thêm dĩa khoai tây đút lò, 2 ly pha lê trong vắt và chai vodka sóng sánh.

“Mừng 20 năm hội ngộ” – Ông và cô cụng ly, rượu vodka thơm ngát, cay nồng quyết rũ.

“Nào, mình cùng ăn em nhé. Món này, ngày xưa….”

Thanh âm dìu dặt trôi trong quán nhỏ. Triệu bông hồng trẻ trung tươi vui. Tình ca du mục ngọt ngào réo rắt. Chiều ngoại ô xa vắng dịu dàng. Đôi bờ mênh mông tha thiết… Tất cả như thì thầm với ông về một ngày xưa xa ngái… Không kìm được, ông khẽ gọi tên cô – Minh Châu… !

Cô ngước lên nhìn ông, nghiêng đầu cười nhẹ: Không phải Song Minh Châu ư anh?

Tên cô là Minh Châu – chữ Minh Châu trong bài đường thi Tiết phụ ngâm của thi nhân nổi tiếng Trương Tịch: “Quân tri thiếp hữu phu/ Tặng thiếp song minh châu/ Cảm quân triều miên ý/ Hệ tại hồng la nhu…”

Có nhẽ, khi đặt tên cho cô, bố cô những mong muốn con gái rượu của mình sẽ luôn như ngọc sáng, cao quý, tinh tấn và phải biết giữ gìn chất ngọc.

Ông vốn theo tây học, là kỹ sư ngành máy dầu Diesel từng du học Rumani và làm việc bên đó nhiều năm nhưng lại rành chữ nho và am hiểu thư tịch cổ vì ngay từ bé ông đã được cụ nội rèn dạy. Cụ từng dịch “Tiết phụ ngâm” theo thể song thất lục bát mà đến giờ, khi trà rượu đàm luận với bạn văn chương, ông vẫn tự hào cho rằng đấy là bản dịch nhuần nhị nhất, dịch mà như không dịch, vô tình mà lại hữu tình:

“Chàng biết thiếp có nơi kết tóc

Đem tặng lòng đôi ngọc minh châu

Cảm chàng chút nghĩa tình sâu

Thiếp đeo trong chéo áo màu cánh sen

Nhà thiếp ở bên lầu Thượng Uyển

Chồng thiếp làm trên điện Minh Quang

Minh châu xin trả lại chàng

Hai dòng nước mắt ràng ràng như mưa…”         

Biết, nhưng ngày đó ông vẫn thích chiết tự Song Minh Châu để gọi tên cô, ám chỉ cô là Đôi Mắt Sáng của riêng ông. Còn lúc này, câu hỏi đùa của cô làm ông bần thần. Tay ông cầm thìa, cầm nĩa mà đầu óc ông cứ vơ vẩn vẩn vơ đến những minh châu, song châu, ngọc quý, ngọc lành… Chao ôi, đâu phải vô tình mà những người dịch Đường thi tài hoa như cụ Ngô Tất Tố, dịch giả Trần Trọng Kim hay cụ nội ông lại chọn thể lục bát hay song thất lục bát để chuyển tải.

Thốt nhiên, ông nhớ đến mấy câu chuyển ngữ hóm hỉnh theo thể ngũ ngôn của vị giáo sư đậm chất “Quảng Nôm” Huỳnh Lý:

“…ba sinh em đã tính/ đèo bòng chi nữa chàng…”

Ừ nhỉ! Người xưa dù là Minh Châu hay ngọc sáng, ngọc lành thì chuyện ba sinh đôi bên đều đã tính, 20 năm rồi, còn đèo bòng chi nữa…!

***

Câu chuyện về cô và ông là một phần nhỏ trong tập tản văn “Gạo, nước mắm, rau muống” của nhà văn Hoàng Trọng Dũng. “Cô” là Minh Châu – “viên ngọc quý” ngày xưa của ông, còn “ông” chính là tác giả. Tất nhiên, khi kể câu chuyện “Đi ăn với người đẹp”– Tên do ông đặt, mà theo tôi, đúng ra phải là “Đi ăn với người xưa” – để hầu chuyện độc giả, nhà văn rất ý nhị, kín kẽ, chủ yếu chỉ điểm xuyến, nhắc qua rồi buông lời cảm thán chứ không trần tình rành mạch chi tiết như tôi cố tình biên chú lại. Ông mượn từ điển tích vị tể tướng Thuần Vu Khôn nào đó bên Tàu uống rượu với Vua cho đến chuyện bạn bè ra nhậu bệt ở Nhật Tân để vòng vèo mãi mới dẫn dắt tới câu chuyện gặp lại người xưa, rồi mượn đôi câu thơ ngũ ngôn của giáo sư Huỳnh Lý vừa tự trào cho cái sự “đèo bòng” bóng dáng người xưa để giấu đi chút niềm riêng tư, vừa tự nhắc nhủ bản thân thay lời kết.

Không biết, sau khi đăng câu chuyện “minh châu xin trả lại… người” lên chuyên mục “Ẩm thực” trên Tuần san Thanh Niên – chuyên mục do ông làm chủ bút suốt mấy năm trời – nhà văn Hoàng Trọng Dũng có để lại thêm “giai thoại” nào khác cho bạn bè, gia đình hay độc giả thân thiết của ông hay không… Còn với Trương Tịch, sau khi viết “Tiết phụ ngâm”, vị thi nhân kiêm chức Quốc tử tư nghiệp thời Trung Đường này đã để lại vô vàn cảm xúc và giai thoại khác nhau mà đến tận bây giờ lớp hậu bối vẫn còn tranh cãi.

Một số vị hay truy tầm điển tích chú giải rằng Trương Tịch vốn làm quan, giữ chức Quốc tử bác sĩ dưới triều vua Đức Tông (năm 799) nhưng trí tuệ uyên bác và tài hoa của ông đã làm nhiều ngài Tiết độ sứ phe nghịch đảng muốn ép ông về dưới trướng, trong đó có Lý Sư Đạo. Khí thế vị Lý Độ sứ này rất mạnh, Trương Tịch không dám làm căng nên viết “Tiết phụ ngâm” mượn thân phận người phụ nữ đã có chồng để nói lên đạo lý “Liệt nữ không lấy hai chồng, trung thần không thờ hai chúa”.

Lại có những vị khác bình rằng, rõ ràng “Tiết phụ ngâm” chỉ là một trong rất nhiều cảm xúc thăng hoa thuần túy của thi nhân Trương Tịch bởi có rơi vào hoàn cảnh trớ trêu thế nào thì tính đường hoàng của người quân tử cũng không cho phép Trương Tịch mượn cái áo lót phụ nữ để giấu đi khí tiết. Huống chi, đó lại là cái áo lót lụa màu hồng (hồng la nhu) quá sức gợi tình. Biết đâu, đôi ngọc Minh Châu trong câu chuyện “chàng hay em có chồng rồi, yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành…” là của chính vị thi nhân đa tình ấy gửi tặng cho người đẹp…?

Mọi lời bàn, có thể đúng, cũng có thể không đúng… Tôi không có ý kiếm tìm, chỉ thấy dù khóc thánh thót như nàng thiếu phụ của nhà thơ Trương Tịch hay cười nhạo bản thân như nhà văn Hoàng Trọng Dũng thì cái tình ấy cũng đều đáng trọng.

Bởi, sau chiếc yếm lụa hồng, ai chẳng giữ riêng cho mình một đôi ngọc minh châu…!

CF&S

Posted in NHƯ MỘT MÓN QUÀ

Nỗi nhớ hoa đào

Với riêng tôi, có 3 loài hoa tôi yêu thích, mà mỗi khi thấy, trong lòng tôi lại dâng lên những xúc cảm sâu xa và mỹ cảm về cái đẹp. Ấy là, hoa đào (phải là đào phai rừng núi), hoa mai trắng (là mai quân tử, hàn mai) và hoa thủy tiên,… Tại sao lại như vậy? Thật khó giải thích ngọn ngành. Đơn giản, cứ coi như một sở thích tự nhiên, hay cũng có thể xem như một sự tập nhiễm, từ khi nào chẳng rõ ?… Nhưng hãy khoan, chưa vội bàn về ý thích loài mai trắng và thủy tiên, chỉ nói về hoa đào núi… trước hết, như một sự đền đáp cho người bạn thân của tôi ở phương Nam xa xôi, nơi không có hoa đào nở mỗi độ xuân về, Tết đến với nỗi nhớ hoa đào của người ấy,…

Mùa xuân xứ Bắc, tết Nguyên đán, đã là sự mặc định từ xa xưa, bánh chưng xanh, câu đối đỏ và hoa đào. Thiếu một trong ba thứ ấy, tết là chưa đầy đủ, cả về vật chất và tinh thần. Còn với tôi, bản chất ham đọc sách, nghề nghiệp, công việc hay đi đây đó, cộng thêm chút lãng tử, lãng mạn thơ văn trong mình, nên tôi đặc biệt yêu thích hoa đào núi. Khác với loại hoa đào được trồng và chiết cành, chăm bón cầu kỳ nơi vườn tược, loài đào rừng núi vốn là đào ăn quả, cành lá tự nhiên, thân khỏe, sống trong điều kiện khí hậu địa chất khắc nghiệt, nên đậm chất hoang dại. Đấy chính là sự khác biệt, làm nên vẻ đẹp riêng có.

Ở rừng núi phía Bắc, có 4 vùng đào núi nổi tiếng xưa nay, ấy là: Mộc Châu (Sơn La), Sa-pa, Y Tý (Lào Cai), Đồng Văn (Hà Giang) và Mẫu Sơn (Lạng Sơn). Cùng là đào núi, nên chúng có những đặc điểm tự nhiên giống nhau như thân cành chắc khỏe, sần sùi, thế cây đa dạng, mà chỉ khác nhau ở hoa, độ dày cánh và màu sắc thôi. Đào Mộc Châu, Mẫu Sơn và Sa-pa là những vùng núi đất trộn đá, khí hậu lạnh ít nhiều giống nhau, cánh mỏng manh, khi nụ và chớm nở màu hồng, khi nở mãn thì sang màu trắng ngà, rồi trắng tinh. Còn đào Y Tý và Đồng Văn là những vùng núi đá, nên cánh hoa dày và bên hơn, lúc chớm hay mãn vẫn giữ màu hồng, chỉ đậm nhạt khác nhau mà thôi.

Nhiều năm nay, mỗi dịp tết, cứ sau độ rằm tháng Chạp, tôi thường mua một cành đào nho nhỏ, giống đào Nhật Tân, nay được trồng ở các vùng lân cận, cằm bình, chơi tết sớm. Là để được hưởng bầu không khí tết trước, là thỏa mãn ít nhiều sở thích yêu hoa đào, và còn có ý chờ đợi một cành đào rừng núi chơi chính Tết. Bạn bè, người quen của tôi, nhiều người biết sở thích này, nên vào mỗi dịp xuân tết, bao giờ cũng gửi cho tôi đào núi, đủ chơi ở nhà và cả văn phòng công sở. Có những năm, nhân chuyến công tác miền núi, thậm chí, tôi rủ bạn tự đi đến một trong những vùng đào rừng nổi tiếng ấy, tự kiếm cho mình những cành đào ưng ý.

Xuân Mậu Tuất này, một nữ phóng viên truyền hình đóng ở khu vực Tây Bắc, trong chuyến về Hà Nội họp tổng kết cuối năm, đã kỳ công rước một cành đào Mộc Châu tuyệt đẹp tặng tôi chơi Tết, kèm một lời nhắn “Hôm nào đào nở đẹp, anh nhớ chụp ảnh gửi qua mạng cho em xem với, cũng là để kiểm tra xem em chọn đào có chuẩn không, có hợp gu thẩm mỹ của anh không?”. Thật cảm động với thịnh tình đó. Nhưng có chút không may, trước Tết vài ngày, tôi gặp trục trặc về sức khỏe. Ngồi ru rú một chỗ với sự đau nhức của thân thể, lòng kém vui và không đủ độ hưng phấn để thưởng hết cái đẹp của cành đào núi từ lúc lác đác chớm nở đến độ mãn khai. Khách đến chúc tết nhà, ai cũng tấm tắc khen cành đào quá tuyệt, trong khi chủ nhà chỉ đủ sức nhếch mép cười và gật gù cho phải phép. Mấy ngày chính Tết, đào nở rộ, đẹp lắm, tôi cũng gắng chụp vài bức ảnh, chát hình lên, báo cáo cô phóng viên nọ, đặng tỏ lòng tri ân người tặng đào…

Sau vài tuần nằm bệnh viện, khi xuất viện thì cành đào cũng đã bỏ đi rồi. Nó được chặt nhỏ thành cành, khúc để đủ bỏ vào xe rác. Người chưa khỏe nên có chút tiêng tiếc nhưng không đủ cảm xúc để viết gì. Nay, nhân được đọc một tản văn ngắn của người bạn thân nơi phương Nam xa xôi về hoa đào, người mà hình như, tết nào cùng dành những dòng viết về cái đẹp, cái mỏng manh, cái thời khắc, cái rụng rơi trôi chảy của cánh đào và nỗi nhớ hoa đào, tôi viết những dòng này, như một sự tri ân với người còn trân quý và say mê hoa đào hơn tôi nhiều!…

Và tôi, cầu mong, người ấy hạnh ngộ và may mắn, hơn nàng Đại Ngọc của nhà văn Tào Tuyết Cần trong tác phẩm bất hủ “Hồng Lâu Mộng” chỉ biết khóc thương khi chôn hoa đào và ngậm ngùi nghĩ đến thân phận mình mai sau…

Hạnh ngộ và may mắn nhé, người mang “nỗi nhớ hoa đào”!…

Nguyễn Chu Nhạc

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Niềm riêng

Mỗi năm hoa đào nở…

… Biết là thế, mỗi năm hoa đào nở.

Và cũng biết câu chuyện “Đào hoa lưu thủy, bận tâm làm gì…”

Ấy thế mà cứ vào ngày xuân, giữa muôn vàng sắc hoa tôi vẫn ngong ngóng tìm cho được một bóng đào phai, để rồi cuống quýt, rối rít, loay hoay, thẩn thờ với những cánh hoa mong manh, phơn phớt ấy.

Trong tôi, hình ảnh gốc đào bạc phếch, chắc nịch, sần sùi những u những cục, có cả rêu đá bám vào, cành hơi nghiêng nghiêng theo thế bạt phong được ba tôi nâng niu bứng từ vườn vào cắm trong chiếc lục bình bụng bầu cổ thuôn luôn là một hình ảnh bất biến.

Cành đào ấy chả mấy hoa, năm nào cũng vậy, chỉ chùm chím đôi ba chùm gọi là điểm xuyến, đến cả lá cũng ít nhưng chi chít những quả non xanh nhạt, cưng cứng, phủ 1 lớp lông tơ mượt như nhung và bé xíu như đầu ngón tay em bé.

Cắm cành đào trong góc nhà một đêm thôi, sáng mai thức dậy cả căn phòng đều ngập tràn mùi thơm kỳ lạ. Nhân nhẫn đắng đót của nhựa sống, phảng phất ngọt ngào của hương hoa, trầm trầm của khói nhang, cay cay của khói pháo… mà bao nhiêu năm sau mỗi khi nhớ về tôi chỉ có thể thốt lên đó là “mùi Tết…!”

Trong cuốn Nếu biết trăm năm là hữu hạn, ông Phạm Lữ Ân có viết rằng “… đến bây giờ tôi vẫn nhớ hoài câu hát: ai qua là bao chốn xa, thấy đâu vui cho bằng mái nhà… và tôi vẫn nghĩ rằng nếu không nơi đâu bằng được mái nhà mình, thì điều tối thiểu ta làm được là giữ cho ký ức mình có một nẻo về. Đừng đợi đến khi ta phải “qua bao chốn xa” mới biết yêu thương nó, vì biết đâu, đến khi ấy thì ta đã chẳng thể nào về được nữa rồi…”

Có lẽ – với tôi – cành đào mong manh ấy chính là nẻo về, để mỗi lần Tết đến, xuân sang, bắt gặp nhánh đào phai đâu đó tôi sẽ có cớ nhủ thầm mình không là lữ khách…

Mồng 6 Tết 2018.
Hoa đào trong sân chùa Hội Khánh, Bình Dương.

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đà Lạt, Đà Lạt

Em có nhớ căn nhà xưa

Em có nhớ căn nhà xưa bên khu vườn cà
Nơi những sớm mai nằm nghe nắng ròn trên mái
 .
 .
 .
 .
Ở đó có những lũ sên bò quanh
Ở đó những vết nứt rêu tường xanh
Có giếng nước soi trời trong
 .
Ở đó có lá cuốn dây ngoài song
Ở đó có gió mát đêm bình yên
Có những tiếng chuông gần lắm,
pha tiếng cầu kinh
 .
 .
Ở đó có những tháng năm buồn tênh
khốn khó quyết nuôi tình duyên
đã trốn thoát qua nhiều phen
.
Ở đó ngó thấy nghĩa trang kề bên
có tiếng khóc hơi đèn nhang
có những sớm mai ta tìm đến
.
 .
 Với những đóa hồng khép nép giữa vòng tay ôm
 Nghe sau lưng em chiếc lá
đã đổi màu xanh lấy hương nồng…
Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Vỹ thanh

Tạm biệt, phút ban đầu…

Cách đây hơn 40 năm, mùa hè 1975 – bản tình ca L’été Indien do hai tác giả người Pháp Pierre Delanoë và Claude Lemesle chuyển tác từ Indian Summer – được Joe Dassin cất lời và ngay lập tức trở thành ca khúc ăn khách nhất trong suốt cuộc đời thăng trầm của Joe. Trong vòng 6 tháng kể từ lúc thu âm,  L’été Indien đã được phát hành hơn 2 triệu bản – bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha, lưu hành  tại 25 quốc gia khác nhau khắp thế giới, thậm chí chinh phục cả Ba Lan, Tiệp Khắc và Liên Xô cũ…

Thật ra, L’été Indien ban đầu vốn có tựa là Africa, do nhạc sĩ người Ý Toto Cutugno sáng tác. Ngay cái tên Africa của nó  đã cho thấy bản nhạc nguyên thủy không dính dáng gì đến tình yêu đôi lứa. Africa được viết theo cấu trúc độc thoại mô tả nội tâm của một người Phi nhập cư trên đất Mỹ – cô độc, lẻ loi nơi đất khách, rồi một hôm mỏi mệt chạnh lòng nhớ về cố hương… vì vậy phần tự sự rất dài. Thêm một điều ngạc nhiên, thời điểm L’été Indien (tức là Africa ban đầu, hay Indian Summer, bản tiếng Anh sau đó) được sáng tác không phải vào mùa hè như cái tên dễ gây nhầm lẫn của nó mà lại rơi chênh chếch vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 – thời điểm vào thu ở khu vực Bắc Mỹ, có trời xanh, có, lá vàng, có nắng đẹp, nhưng hanh hao và gợi nhớ đến nao lòng.

Nghe nói, khi thâu âm L’été Indien, Joe Dassin cũng đang rơi vào giai đoạn “vào thu” của cuộc đời – giai đoạn nhạy cảm, dễ tổn thương và bế tắc khi mất đi đứa con đầu lòng, trầm cảm hành hạ nặng nề, gia đình tan vỡ, chứng nghiện rượu khiến anh mất đi nhiều cơ hội thăng tiến, sự nghiệp âm nhạc cũng bắt đầu tuột dốc…

Có lẽ vì vậy nên Joe Dassin đã thành công khi thể hiện đoạn độc thoại ấy bằng chất giọng trầm khàn, nghèn nghẹn pha chút u uẩn đặc biệt của một người biết rõ về những điều đẹp đẽ, mong manh, trân quý nhất trong cuộc đời như tình yêu, hạnh phúc và niềm tin đang dần trôi qua tay mình mà không sao níu giữ được. Sau này, anh Tuấn Thảo, biên tập viên âm nhạc của tạp chí RFI đã mô tả đoạn thoại của Joe là “lối nhả chữ dạt dào theo từng nhịp điệu, dập dìu nhưng không bao giờ chịu vỡ oà, như thể cất lên từ con tim của người đàn ông đớn đau muốn khóc, nhưng trí óc vẫn buộc mình tự chủ tiết chế…”

Ở Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy thêm một lần nữa phổ nhạc thành công L’été Indien thành bản tình ca da diết mang tên “Mới hôm nào”, được danh ca Elvis Phương và nữ ca sĩ Ngọc Lan thể hiện rất ngọt ngào.

Mới hôm nào, tình yêu đã trao ta phút êm đềm

Bao chiếc hôn say sưa mặn nồng mình yêu nhau tưởng không hề phai

Có đâu ngờ, tình yêu đã xa và em không còn

Môi mắt ấy bây giờ thêm xót xa…

***

Hôm nay, trong hộp thoại  của tôi, Ly Vân để lại lời nhắn” Q ơi, hình như anh Hoàng đã deactive fb rồi”

Tôi – Vân – và anh Hoàng là bộ ba từ thời Yume còn rộn ràng tấp nập. Vân điểm phim, anh Hoàng điểm nhạc, còn tôi điểm sách. Đam mê, tuổi trẻ, sự thấu hiểu khiến chúng tôi gần nhau, dù mỗi chúng tôi đều có cuộc đời riêng – rất khác – ngoài trang viết.

Lời nhắn của Vân làm tôi khựng lại. Lâu nay, tôi lười vào fb của anh Hoàng, thậm chí lười cả việc gửi đi vài cái like đơn giản nhất để thay lời đồng cảm với những bản nhạc mà anh yêu thích.

Tôi không hoài nghi bất cứ điều gì, cũng không cố ý giải thích hay biện minh. Quen nhau hơn 10 năm, tôi hiểu, anh đã mỏi mệt. Và anh có quyết định của riêng mình. Vì thế, tối nay, thay vì inbox cho anh. Tôi chọn cách nghe lại L’été Indien, như một cách nhớ về mùa thu đầy nắng, đầy gió, đầy niềm vui và cũng ăm ắp nỗi niềm mà tất cả chúng tôi đã từng chia sẻ. Một mùa thu của “tuổi trẻ lạc lối”, như mùa thu tháng mười mênh mang, chông chênh nào đó, trong câu hát của Joe…

Tu sais
Je n’ai jamais été aussi heureux que ce matin-là
Nous marchions sur une plage un peu comme celle-ci
C’était l’automne
Un automne où il faisait beau
Une saison qui n’existe que dans le Nord de l’Amérique
Là-bas on l’appelle l’été indien
Mais c’était tout simplement le nôtre
Avec ta robe longue
Tu ressemblais à une aquarelle de Marie Laurencin
Et je me souviens
Je me souviens très bien de ce que je t’ai dit ce matin-là
Il y a un an, y a un siècle, y a une éternité…

Bản L’été Indien được phối lại bằng công nghệ hiện đại: song ca ảo với giọng ca của Hélène Ségara, nằm trong album Et si tu n’existais pas (Nếu vắng anh trong đời) để tưởng niệm 30 năm ngày mất của Joe Dassin.

 

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Niềm riêng

Về thôi,

Chưa bao giờ tâm tưởng “về nhà” lại rõ ràng và thôi thúc như lúc này… Không phải mình muốn về chỉ vì nhớ, hay muốn về dăm ba ngày để cố hít lấy hít để cho đầy buồng phổi hơi đất, hơi nước, hơi gió rồi lại ra đi. Cái gọi là “nhớ” ấy đã phai nhạt trong mình nhiều lắm rồi, đến mức, mỗi khi có chuyện cần về, mình lại thấy mình thành kẻ lữ khách bơ vơ tội nghiệp ngay giữa lòng Đà Lạt. Thế nên hết việc là mình ra đi. Những ngày về thăm ngắn dần, còn nỗi nhớ đầy đặn ngày xưa giờ mỏng tang, mơ hồ, lãng đãng.

Vậy mà giờ đây, ý định trở về cứ hiện hữu trong mình, lớn dần lên từng ngày, từng ngày. Mình ăn cũng nghĩ đến nó, ngủ cũng nghĩ đến nó, cả khi làm việc, thì ý nghĩ “về nhà” cũng không buông bỏ. Mình sẽ bán nhà cũ đi, nhỉ? Rồi gom hết tiền bấy lâu dành dụm được, cộng với cả tiền vay mượn của anh em, mình sẽ kiếm miếng đất nào đó rộng rãi xa xa thành phố một chút, về phía ấp Cô Giang hay sau đồi Mai Anh chẳng hạn. Ví dụ thế, rồi mình xây 1 ngôi nhà, nhỏ thôi, nhưng phải có một cái sân gạch màu nâu đỏ bên hiên nhà, cửa sổ nhất định sẽ gắn loại khung sắt uốn lượn hoa văn thật thanh nhã. Cửa lớn bên ngoài chắc là bằng gỗ, sơn màu xanh lam, không biết như thế có hợp không, nhưng cứ vẽ lên trong đầu như vậy. Đồ đạc trong nhà đơn giản, càng tiết giảm càng tốt, nhưng bếp nhất thiết phải thật đầy đủ, có cả những kệ gỗ dài gắn trên tường để mình sắp xếp, bày biện những bộ bát đũa ấm chén mà mình nhặt nhạnh sưu tập suốt 5 năm nay. Không gian trước nhà sẽ thiết kế thành 1 quán cà phê sách, đặt 5-7 bộ bàn ghế bé bé nhưng thật thoải mái khi ngồi, phần không gian dư ra chắc dành cho cây cối, sen đá, và mấy bức tượng gốm. Mình sẽ tự tay xếp sách, tự tay rang xay pha chế café theo kiểu của mình. Không gian sách ấy sẽ thoang thoảng thơm mùi bánh ngọt mới ra lò, do mình tự nướng lấy. Thi thoảng, sẽ có một cuộc bình sách nho nhỏ, giữa những người cùng gu…

Một ngôi nhà như thế, một quán sách như thế thì sẽ hết bao nhiêu tiền nhỉ?

Có lần mình thố lộ ý muốn mở quán café sách với anh Hoàng, anh nhắc “CF có hình dung được rằng, mở quán café sách thì em sẽ phải chấp nhận chuyện chia sẻ sách của em với người lạ, mà, rất nhiều người trong số đó sẽ không biết yêu quý hay giữ gìn sách như em đâu… Thấy sách rách đừng có nóng mặt tống cổ khách ra ngoài nhé!”

Mình cười haha nhưng biết anh nói đúng. Chuyển đổi một công việc đã gắn với mình gần như cả đời để bắt đầu một công việc mới chả dễ dàng gì. Nhưng có lẽ, khó khăn nhất không phải chỉ có chuyện quản lý công việc ấy như thế nào mà còn là chuyện “quản lý” cho được những nếp sống cá nhân đã ăn sâu vào máu của mình ra sao kia…

Ôi, giấc mơ của mình, còn bao lâu nữa…?!