Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Vỹ thanh

Ngày chưa giông bão

NGÀY CHƯA GIÔNG BÃO

Nhạc và lời: Phan Mạnh Quỳnh

Ca sĩ: Bùi Lan Hương

Vì ta yêu nhau như cơn sóng vỗ

Quẩn quanh bao năm không buông mặt hồ

Thuyền anh đi xa bờ thì em vẫn dõi chờ

Duyên mình dịu êm thơ rất thơ

*

Và anh nâng niu em như đóa hoa

Còn em xem anh như trăng ngọc ngà

Tự do như mây vàng mình phiêu du non ngàn

Dẫu trần gian bao la đến đâu nơi anh là nhà

*

Khi anh qua thung lũng, và bóng đêm ghì bàn chân,

Đời khiến anh chẳng còn nhiều luyến lưu, em mong lau mắt anh khô

Ta yêu sai hay đúng, còn thấy đau là còn thương

Khi bão qua rồi biết đâu sẽ.. đi tới nơi của ngày đầu, hết muộn sầu.

*

Lạc bước giữa những đam mê tăm tối

Liệu máu vẫn nóng nơi tim bồi hồi?

Người năm xưa đâu rồi, lạnh băng tiếng khóc cười

Anh ở nơi xa xôi vô lối.

Mặt đất níu giữ đôi chân chúng ta

Thì bay lên trong cơn mơ kỳ lạ

Ở đó anh vẫn là người yêu thương chan hòa

Dẫu trần gian cho anh đắng cay nơi em là nhà…

__________

… nhiều khi, chỉ muốn một điều, muốn tha thiết, hơn tất cả, là được cùng Vân và Anh chia sẻ với nhau bản nhạc, chia sẻ với nhau cảm xúc, chia sẻ với nhau nụ cười và chia sẻ cả những mệt mỏi, muộn phiền …

Advertisements
Posted in Cà phê và sách, TRÊN KỆ SÁCH

Yếm hồng giữ ngọc minh châu

… Ông chờ cô trong một quán nhỏ, nâu trầm, bình dị nhưng tinh tế, ẩn mình sau hàng cây trứng cá, nằm cuối phố cổ.

Những bản tình ca Nga, theo yêu cầu đặc biệt của ông, được bật nhè nhẹ vừa đủ nghe.

Quán vắng. Chiều muộn. Vài tia nắng cuối ngày len qua vòm lá, đậu lại trên miệng ly thủy tinh hắt xuống mặt bàn tạo thành một vòm cầu vồng nhàn nhạt.

Cô đến.

Thời gian 20 năm cơ hồ không đủ làm cô thay đổi. Vóc dáng ấy. Khuôn mặt ấy. Mái tóc ấy. Nụ cười ấy. Vẫn như xưa. Cả đôi mắt tinh anh, trong veo, nghịch ngợm cùng cái cách cô nghiêng đầu một thời làm ông thao thức cũng chẳng mảy may thay đổi.

Nắm lấy bàn tay nhỏ của cô, tim ông bồng bềnh, chênh chao vài nhịp.

Thức ăn lần lượt được mang ra.

Súp củ cải đỏ. Trứng cá muối. Bánh mì đen.  Một ít phô mai xông khói. Thêm dĩa khoai tây đút lò, 2 ly pha lê trong vắt và chai vodka sóng sánh.

“Mừng 20 năm hội ngộ” – Ông và cô cụng ly, rượu vodka thơm ngát, cay nồng quyết rũ.

“Nào, mình cùng ăn em nhé. Món này, ngày xưa….”

Thanh âm dìu dặt trôi trong quán nhỏ. Triệu bông hồng trẻ trung tươi vui. Tình ca du mục ngọt ngào réo rắt. Chiều ngoại ô xa vắng dịu dàng. Đôi bờ mênh mông tha thiết… Tất cả như thì thầm với ông về một ngày xưa xa ngái… Không kìm được, ông khẽ gọi tên cô – Minh Châu… !

Cô ngước lên nhìn ông, nghiêng đầu cười nhẹ: Không phải Song Minh Châu ư anh?

Tên cô là Minh Châu – chữ Minh Châu trong bài đường thi Tiết phụ ngâm của thi nhân nổi tiếng Trương Tịch: “Quân tri thiếp hữu phu/ Tặng thiếp song minh châu/ Cảm quân triều miên ý/ Hệ tại hồng la nhu…”

Có nhẽ, khi đặt tên cho cô, bố cô những mong muốn con gái rượu của mình sẽ luôn như ngọc sáng, cao quý, tinh tấn và phải biết giữ gìn chất ngọc.

Ông vốn theo tây học, là kỹ sư ngành máy dầu Diesel từng du học Rumani và làm việc bên đó nhiều năm nhưng lại rành chữ nho và am hiểu thư tịch cổ vì ngay từ bé ông đã được cụ nội rèn dạy. Cụ từng dịch “Tiết phụ ngâm” theo thể song thất lục bát mà đến giờ, khi trà rượu đàm luận với bạn văn chương, ông vẫn tự hào cho rằng đấy là bản dịch nhuần nhị nhất, dịch mà như không dịch, vô tình mà lại hữu tình:

“Chàng biết thiếp có nơi kết tóc

Đem tặng lòng đôi ngọc minh châu

Cảm chàng chút nghĩa tình sâu

Thiếp đeo trong chéo áo màu cánh sen

Nhà thiếp ở bên lầu Thượng Uyển

Chồng thiếp làm trên điện Minh Quang

Minh châu xin trả lại chàng

Hai dòng nước mắt ràng ràng như mưa…”         

Biết, nhưng ngày đó ông vẫn thích chiết tự Song Minh Châu để gọi tên cô, ám chỉ cô là Đôi Mắt Sáng của riêng ông. Còn lúc này, câu hỏi đùa của cô làm ông bần thần. Tay ông cầm thìa, cầm nĩa mà đầu óc ông cứ vơ vẩn vẩn vơ đến những minh châu, song châu, ngọc quý, ngọc lành… Chao ôi, đâu phải vô tình mà những người dịch Đường thi tài hoa như cụ Ngô Tất Tố, dịch giả Trần Trọng Kim hay cụ nội ông lại chọn thể lục bát hay song thất lục bát để chuyển tải.

Thốt nhiên, ông nhớ đến mấy câu chuyển ngữ hóm hỉnh theo thể ngũ ngôn của vị giáo sư đậm chất “Quảng Nôm” Huỳnh Lý:

“…ba sinh em đã tính/ đèo bòng chi nữa chàng…”

Ừ nhỉ! Người xưa dù là Minh Châu hay ngọc sáng, ngọc lành thì chuyện ba sinh đôi bên đều đã tính, 20 năm rồi, còn đèo bòng chi nữa…!

***

Câu chuyện về cô và ông là một phần nhỏ trong tập tản văn “Gạo, nước mắm, rau muống” của nhà văn Hoàng Trọng Dũng. “Cô” là Minh Châu – “viên ngọc quý” ngày xưa của ông, còn “ông” chính là tác giả. Tất nhiên, khi kể câu chuyện “Đi ăn với người đẹp”– Tên do ông đặt, mà theo tôi, đúng ra phải là “Đi ăn với người xưa” – để hầu chuyện độc giả, nhà văn rất ý nhị, kín kẽ, chủ yếu chỉ điểm xuyến, nhắc qua rồi buông lời cảm thán chứ không trần tình rành mạch chi tiết như tôi cố tình biên chú lại. Ông mượn từ điển tích vị tể tướng Thuần Vu Khôn nào đó bên Tàu uống rượu với Vua cho đến chuyện bạn bè ra nhậu bệt ở Nhật Tân để vòng vèo mãi mới dẫn dắt tới câu chuyện gặp lại người xưa, rồi mượn đôi câu thơ ngũ ngôn của giáo sư Huỳnh Lý vừa tự trào cho cái sự “đèo bòng” bóng dáng người xưa để giấu đi chút niềm riêng tư, vừa tự nhắc nhủ bản thân thay lời kết.

Không biết, sau khi đăng câu chuyện “minh châu xin trả lại… người” lên chuyên mục “Ẩm thực” trên Tuần san Thanh Niên – chuyên mục do ông làm chủ bút suốt mấy năm trời – nhà văn Hoàng Trọng Dũng có để lại thêm “giai thoại” nào khác cho bạn bè, gia đình hay độc giả thân thiết của ông hay không… Còn với Trương Tịch, sau khi viết “Tiết phụ ngâm”, vị thi nhân kiêm chức Quốc tử tư nghiệp thời Trung Đường này đã để lại vô vàn cảm xúc và giai thoại khác nhau mà đến tận bây giờ lớp hậu bối vẫn còn tranh cãi.

Một số vị hay truy tầm điển tích chú giải rằng Trương Tịch vốn làm quan, giữ chức Quốc tử bác sĩ dưới triều vua Đức Tông (năm 799) nhưng trí tuệ uyên bác và tài hoa của ông đã làm nhiều ngài Tiết độ sứ phe nghịch đảng muốn ép ông về dưới trướng, trong đó có Lý Sư Đạo. Khí thế vị Lý Độ sứ này rất mạnh, Trương Tịch không dám làm căng nên viết “Tiết phụ ngâm” mượn thân phận người phụ nữ đã có chồng để nói lên đạo lý “Liệt nữ không lấy hai chồng, trung thần không thờ hai chúa”.

Lại có những vị khác bình rằng, rõ ràng “Tiết phụ ngâm” chỉ là một trong rất nhiều cảm xúc thăng hoa thuần túy của thi nhân Trương Tịch bởi có rơi vào hoàn cảnh trớ trêu thế nào thì tính đường hoàng của người quân tử cũng không cho phép Trương Tịch mượn cái áo lót phụ nữ để giấu đi khí tiết. Huống chi, đó lại là cái áo lót lụa màu hồng (hồng la nhu) quá sức gợi tình. Biết đâu, đôi ngọc Minh Châu trong câu chuyện “chàng hay em có chồng rồi, yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành…” là của chính vị thi nhân đa tình ấy gửi tặng cho người đẹp…?

Mọi lời bàn, có thể đúng, cũng có thể không đúng… Tôi không có ý kiếm tìm, chỉ thấy dù khóc thánh thót như nàng thiếu phụ của nhà thơ Trương Tịch hay cười nhạo bản thân như nhà văn Hoàng Trọng Dũng thì cái tình ấy cũng đều đáng trọng.

Bởi, sau chiếc yếm lụa hồng, ai chẳng giữ riêng cho mình một đôi ngọc minh châu…!

CF&S

Posted in NHƯ MỘT MÓN QUÀ

Nỗi nhớ hoa đào

Với riêng tôi, có 3 loài hoa tôi yêu thích, mà mỗi khi thấy, trong lòng tôi lại dâng lên những xúc cảm sâu xa và mỹ cảm về cái đẹp. Ấy là, hoa đào (phải là đào phai rừng núi), hoa mai trắng (là mai quân tử, hàn mai) và hoa thủy tiên,… Tại sao lại như vậy? Thật khó giải thích ngọn ngành. Đơn giản, cứ coi như một sở thích tự nhiên, hay cũng có thể xem như một sự tập nhiễm, từ khi nào chẳng rõ ?… Nhưng hãy khoan, chưa vội bàn về ý thích loài mai trắng và thủy tiên, chỉ nói về hoa đào núi… trước hết, như một sự đền đáp cho người bạn thân của tôi ở phương Nam xa xôi, nơi không có hoa đào nở mỗi độ xuân về, Tết đến với nỗi nhớ hoa đào của người ấy,…

Mùa xuân xứ Bắc, tết Nguyên đán, đã là sự mặc định từ xa xưa, bánh chưng xanh, câu đối đỏ và hoa đào. Thiếu một trong ba thứ ấy, tết là chưa đầy đủ, cả về vật chất và tinh thần. Còn với tôi, bản chất ham đọc sách, nghề nghiệp, công việc hay đi đây đó, cộng thêm chút lãng tử, lãng mạn thơ văn trong mình, nên tôi đặc biệt yêu thích hoa đào núi. Khác với loại hoa đào được trồng và chiết cành, chăm bón cầu kỳ nơi vườn tược, loài đào rừng núi vốn là đào ăn quả, cành lá tự nhiên, thân khỏe, sống trong điều kiện khí hậu địa chất khắc nghiệt, nên đậm chất hoang dại. Đấy chính là sự khác biệt, làm nên vẻ đẹp riêng có.

Ở rừng núi phía Bắc, có 4 vùng đào núi nổi tiếng xưa nay, ấy là: Mộc Châu (Sơn La), Sa-pa, Y Tý (Lào Cai), Đồng Văn (Hà Giang) và Mẫu Sơn (Lạng Sơn). Cùng là đào núi, nên chúng có những đặc điểm tự nhiên giống nhau như thân cành chắc khỏe, sần sùi, thế cây đa dạng, mà chỉ khác nhau ở hoa, độ dày cánh và màu sắc thôi. Đào Mộc Châu, Mẫu Sơn và Sa-pa là những vùng núi đất trộn đá, khí hậu lạnh ít nhiều giống nhau, cánh mỏng manh, khi nụ và chớm nở màu hồng, khi nở mãn thì sang màu trắng ngà, rồi trắng tinh. Còn đào Y Tý và Đồng Văn là những vùng núi đá, nên cánh hoa dày và bên hơn, lúc chớm hay mãn vẫn giữ màu hồng, chỉ đậm nhạt khác nhau mà thôi.

Nhiều năm nay, mỗi dịp tết, cứ sau độ rằm tháng Chạp, tôi thường mua một cành đào nho nhỏ, giống đào Nhật Tân, nay được trồng ở các vùng lân cận, cằm bình, chơi tết sớm. Là để được hưởng bầu không khí tết trước, là thỏa mãn ít nhiều sở thích yêu hoa đào, và còn có ý chờ đợi một cành đào rừng núi chơi chính Tết. Bạn bè, người quen của tôi, nhiều người biết sở thích này, nên vào mỗi dịp xuân tết, bao giờ cũng gửi cho tôi đào núi, đủ chơi ở nhà và cả văn phòng công sở. Có những năm, nhân chuyến công tác miền núi, thậm chí, tôi rủ bạn tự đi đến một trong những vùng đào rừng nổi tiếng ấy, tự kiếm cho mình những cành đào ưng ý.

Xuân Mậu Tuất này, một nữ phóng viên truyền hình đóng ở khu vực Tây Bắc, trong chuyến về Hà Nội họp tổng kết cuối năm, đã kỳ công rước một cành đào Mộc Châu tuyệt đẹp tặng tôi chơi Tết, kèm một lời nhắn “Hôm nào đào nở đẹp, anh nhớ chụp ảnh gửi qua mạng cho em xem với, cũng là để kiểm tra xem em chọn đào có chuẩn không, có hợp gu thẩm mỹ của anh không?”. Thật cảm động với thịnh tình đó. Nhưng có chút không may, trước Tết vài ngày, tôi gặp trục trặc về sức khỏe. Ngồi ru rú một chỗ với sự đau nhức của thân thể, lòng kém vui và không đủ độ hưng phấn để thưởng hết cái đẹp của cành đào núi từ lúc lác đác chớm nở đến độ mãn khai. Khách đến chúc tết nhà, ai cũng tấm tắc khen cành đào quá tuyệt, trong khi chủ nhà chỉ đủ sức nhếch mép cười và gật gù cho phải phép. Mấy ngày chính Tết, đào nở rộ, đẹp lắm, tôi cũng gắng chụp vài bức ảnh, chát hình lên, báo cáo cô phóng viên nọ, đặng tỏ lòng tri ân người tặng đào…

Sau vài tuần nằm bệnh viện, khi xuất viện thì cành đào cũng đã bỏ đi rồi. Nó được chặt nhỏ thành cành, khúc để đủ bỏ vào xe rác. Người chưa khỏe nên có chút tiêng tiếc nhưng không đủ cảm xúc để viết gì. Nay, nhân được đọc một tản văn ngắn của người bạn thân nơi phương Nam xa xôi về hoa đào, người mà hình như, tết nào cùng dành những dòng viết về cái đẹp, cái mỏng manh, cái thời khắc, cái rụng rơi trôi chảy của cánh đào và nỗi nhớ hoa đào, tôi viết những dòng này, như một sự tri ân với người còn trân quý và say mê hoa đào hơn tôi nhiều!…

Và tôi, cầu mong, người ấy hạnh ngộ và may mắn, hơn nàng Đại Ngọc của nhà văn Tào Tuyết Cần trong tác phẩm bất hủ “Hồng Lâu Mộng” chỉ biết khóc thương khi chôn hoa đào và ngậm ngùi nghĩ đến thân phận mình mai sau…

Hạnh ngộ và may mắn nhé, người mang “nỗi nhớ hoa đào”!…

Nguyễn Chu Nhạc

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Niềm riêng

Mỗi năm hoa đào nở…

… Biết là thế, mỗi năm hoa đào nở.

Và cũng biết câu chuyện “Đào hoa lưu thủy, bận tâm làm gì…”

Ấy thế mà cứ vào ngày xuân, giữa muôn vàng sắc hoa tôi vẫn ngong ngóng tìm cho được một bóng đào phai, để rồi cuống quýt, rối rít, loay hoay, thẩn thờ với những cánh hoa mong manh, phơn phớt ấy.

Trong tôi, hình ảnh gốc đào bạc phếch, chắc nịch, sần sùi những u những cục, có cả rêu đá bám vào, cành hơi nghiêng nghiêng theo thế bạt phong được ba tôi nâng niu bứng từ vườn vào cắm trong chiếc lục bình bụng bầu cổ thuôn luôn là một hình ảnh bất biến.

Cành đào ấy chả mấy hoa, năm nào cũng vậy, chỉ chùm chím đôi ba chùm gọi là điểm xuyến, đến cả lá cũng ít nhưng chi chít những quả non xanh nhạt, cưng cứng, phủ 1 lớp lông tơ mượt như nhung và bé xíu như đầu ngón tay em bé.

Cắm cành đào trong góc nhà một đêm thôi, sáng mai thức dậy cả căn phòng đều ngập tràn mùi thơm kỳ lạ. Nhân nhẫn đắng đót của nhựa sống, phảng phất ngọt ngào của hương hoa, trầm trầm của khói nhang, cay cay của khói pháo… mà bao nhiêu năm sau mỗi khi nhớ về tôi chỉ có thể thốt lên đó là “mùi Tết…!”

Trong cuốn Nếu biết trăm năm là hữu hạn, ông Phạm Lữ Ân có viết rằng “… đến bây giờ tôi vẫn nhớ hoài câu hát: ai qua là bao chốn xa, thấy đâu vui cho bằng mái nhà… và tôi vẫn nghĩ rằng nếu không nơi đâu bằng được mái nhà mình, thì điều tối thiểu ta làm được là giữ cho ký ức mình có một nẻo về. Đừng đợi đến khi ta phải “qua bao chốn xa” mới biết yêu thương nó, vì biết đâu, đến khi ấy thì ta đã chẳng thể nào về được nữa rồi…”

Có lẽ – với tôi – cành đào mong manh ấy chính là nẻo về, để mỗi lần Tết đến, xuân sang, bắt gặp nhánh đào phai đâu đó tôi sẽ có cớ nhủ thầm mình không là lữ khách…

Mồng 6 Tết 2018.
Hoa đào trong sân chùa Hội Khánh, Bình Dương.

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đà Lạt, Đà Lạt

Em có nhớ căn nhà xưa

Em có nhớ căn nhà xưa bên khu vườn cà
Nơi những sớm mai nằm nghe nắng ròn trên mái
 .
 .
 .
 .
Ở đó có những lũ sên bò quanh
Ở đó những vết nứt rêu tường xanh
Có giếng nước soi trời trong
 .
Ở đó có lá cuốn dây ngoài song
Ở đó có gió mát đêm bình yên
Có những tiếng chuông gần lắm,
pha tiếng cầu kinh
 .
 .
Ở đó có những tháng năm buồn tênh
khốn khó quyết nuôi tình duyên
đã trốn thoát qua nhiều phen
.
Ở đó ngó thấy nghĩa trang kề bên
có tiếng khóc hơi đèn nhang
có những sớm mai ta tìm đến
.
 .
 Với những đóa hồng khép nép giữa vòng tay ôm
 Nghe sau lưng em chiếc lá
đã đổi màu xanh lấy hương nồng…
Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Vỹ thanh

Tạm biệt, phút ban đầu…

Cách đây hơn 40 năm, mùa hè 1975 – bản tình ca L’été Indien do hai tác giả người Pháp Pierre Delanoë và Claude Lemesle chuyển tác từ Indian Summer – được Joe Dassin cất lời và ngay lập tức trở thành ca khúc ăn khách nhất trong suốt cuộc đời thăng trầm của Joe. Trong vòng 6 tháng kể từ lúc thu âm,  L’été Indien đã được phát hành hơn 2 triệu bản – bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha, lưu hành  tại 25 quốc gia khác nhau khắp thế giới, thậm chí chinh phục cả Ba Lan, Tiệp Khắc và Liên Xô cũ…

Thật ra, L’été Indien ban đầu vốn có tựa là Africa, do nhạc sĩ người Ý Toto Cutugno sáng tác. Ngay cái tên Africa của nó  đã cho thấy bản nhạc nguyên thủy không dính dáng gì đến tình yêu đôi lứa. Africa được viết theo cấu trúc độc thoại mô tả nội tâm của một người Phi nhập cư trên đất Mỹ – cô độc, lẻ loi nơi đất khách, rồi một hôm mỏi mệt chạnh lòng nhớ về cố hương… vì vậy phần tự sự rất dài. Thêm một điều ngạc nhiên, thời điểm L’été Indien (tức là Africa ban đầu, hay Indian Summer, bản tiếng Anh sau đó) được sáng tác không phải vào mùa hè như cái tên dễ gây nhầm lẫn của nó mà lại rơi chênh chếch vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 – thời điểm vào thu ở khu vực Bắc Mỹ, có trời xanh, có, lá vàng, có nắng đẹp, nhưng hanh hao và gợi nhớ đến nao lòng.

Nghe nói, khi thâu âm L’été Indien, Joe Dassin cũng đang rơi vào giai đoạn “vào thu” của cuộc đời – giai đoạn nhạy cảm, dễ tổn thương và bế tắc khi mất đi đứa con đầu lòng, trầm cảm hành hạ nặng nề, gia đình tan vỡ, chứng nghiện rượu khiến anh mất đi nhiều cơ hội thăng tiến, sự nghiệp âm nhạc cũng bắt đầu tuột dốc…

Có lẽ vì vậy nên Joe Dassin đã thành công khi thể hiện đoạn độc thoại ấy bằng chất giọng trầm khàn, nghèn nghẹn pha chút u uẩn đặc biệt của một người biết rõ về những điều đẹp đẽ, mong manh, trân quý nhất trong cuộc đời như tình yêu, hạnh phúc và niềm tin đang dần trôi qua tay mình mà không sao níu giữ được. Sau này, anh Tuấn Thảo, biên tập viên âm nhạc của tạp chí RFI đã mô tả đoạn thoại của Joe là “lối nhả chữ dạt dào theo từng nhịp điệu, dập dìu nhưng không bao giờ chịu vỡ oà, như thể cất lên từ con tim của người đàn ông đớn đau muốn khóc, nhưng trí óc vẫn buộc mình tự chủ tiết chế…”

Ở Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy thêm một lần nữa phổ nhạc thành công L’été Indien thành bản tình ca da diết mang tên “Mới hôm nào”, được danh ca Elvis Phương và nữ ca sĩ Ngọc Lan thể hiện rất ngọt ngào.

Mới hôm nào, tình yêu đã trao ta phút êm đềm

Bao chiếc hôn say sưa mặn nồng mình yêu nhau tưởng không hề phai

Có đâu ngờ, tình yêu đã xa và em không còn

Môi mắt ấy bây giờ thêm xót xa…

***

Hôm nay, trong hộp thoại  của tôi, Ly Vân để lại lời nhắn” Q ơi, hình như anh Hoàng đã deactive fb rồi”

Tôi – Vân – và anh Hoàng là bộ ba từ thời Yume còn rộn ràng tấp nập. Vân điểm phim, anh Hoàng điểm nhạc, còn tôi điểm sách. Đam mê, tuổi trẻ, sự thấu hiểu khiến chúng tôi gần nhau, dù mỗi chúng tôi đều có cuộc đời riêng – rất khác – ngoài trang viết.

Lời nhắn của Vân làm tôi khựng lại. Lâu nay, tôi lười vào fb của anh Hoàng, thậm chí lười cả việc gửi đi vài cái like đơn giản nhất để thay lời đồng cảm với những bản nhạc mà anh yêu thích.

Tôi không hoài nghi bất cứ điều gì, cũng không cố ý giải thích hay biện minh. Quen nhau hơn 10 năm, tôi hiểu, anh đã mỏi mệt. Và anh có quyết định của riêng mình. Vì thế, tối nay, thay vì inbox cho anh. Tôi chọn cách nghe lại L’été Indien, như một cách nhớ về mùa thu đầy nắng, đầy gió, đầy niềm vui và cũng ăm ắp nỗi niềm mà tất cả chúng tôi đã từng chia sẻ. Một mùa thu của “tuổi trẻ lạc lối”, như mùa thu tháng mười mênh mang, chông chênh nào đó, trong câu hát của Joe…

Tu sais
Je n’ai jamais été aussi heureux que ce matin-là
Nous marchions sur une plage un peu comme celle-ci
C’était l’automne
Un automne où il faisait beau
Une saison qui n’existe que dans le Nord de l’Amérique
Là-bas on l’appelle l’été indien
Mais c’était tout simplement le nôtre
Avec ta robe longue
Tu ressemblais à une aquarelle de Marie Laurencin
Et je me souviens
Je me souviens très bien de ce que je t’ai dit ce matin-là
Il y a un an, y a un siècle, y a une éternité…

Bản L’été Indien được phối lại bằng công nghệ hiện đại: song ca ảo với giọng ca của Hélène Ségara, nằm trong album Et si tu n’existais pas (Nếu vắng anh trong đời) để tưởng niệm 30 năm ngày mất của Joe Dassin.

 

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Niềm riêng

Về thôi,

Chưa bao giờ tâm tưởng “về nhà” lại rõ ràng và thôi thúc như lúc này… Không phải mình muốn về chỉ vì nhớ, hay muốn về dăm ba ngày để cố hít lấy hít để cho đầy buồng phổi hơi đất, hơi nước, hơi gió rồi lại ra đi. Cái gọi là “nhớ” ấy đã phai nhạt trong mình nhiều lắm rồi, đến mức, mỗi khi có chuyện cần về, mình lại thấy mình thành kẻ lữ khách bơ vơ tội nghiệp ngay giữa lòng Đà Lạt. Thế nên hết việc là mình ra đi. Những ngày về thăm ngắn dần, còn nỗi nhớ đầy đặn ngày xưa giờ mỏng tang, mơ hồ, lãng đãng.

Vậy mà giờ đây, ý định trở về cứ hiện hữu trong mình, lớn dần lên từng ngày, từng ngày. Mình ăn cũng nghĩ đến nó, ngủ cũng nghĩ đến nó, cả khi làm việc, thì ý nghĩ “về nhà” cũng không buông bỏ. Mình sẽ bán nhà cũ đi, nhỉ? Rồi gom hết tiền bấy lâu dành dụm được, cộng với cả tiền vay mượn của anh em, mình sẽ kiếm miếng đất nào đó rộng rãi xa xa thành phố một chút, về phía ấp Cô Giang hay sau đồi Mai Anh chẳng hạn. Ví dụ thế, rồi mình xây 1 ngôi nhà, nhỏ thôi, nhưng phải có một cái sân gạch màu nâu đỏ bên hiên nhà, cửa sổ nhất định sẽ gắn loại khung sắt uốn lượn hoa văn thật thanh nhã. Cửa lớn bên ngoài chắc là bằng gỗ, sơn màu xanh lam, không biết như thế có hợp không, nhưng cứ vẽ lên trong đầu như vậy. Đồ đạc trong nhà đơn giản, càng tiết giảm càng tốt, nhưng bếp nhất thiết phải thật đầy đủ, có cả những kệ gỗ dài gắn trên tường để mình sắp xếp, bày biện những bộ bát đũa ấm chén mà mình nhặt nhạnh sưu tập suốt 5 năm nay. Không gian trước nhà sẽ thiết kế thành 1 quán cà phê sách, đặt 5-7 bộ bàn ghế bé bé nhưng thật thoải mái khi ngồi, phần không gian dư ra chắc dành cho cây cối, sen đá, và mấy bức tượng gốm. Mình sẽ tự tay xếp sách, tự tay rang xay pha chế café theo kiểu của mình. Không gian sách ấy sẽ thoang thoảng thơm mùi bánh ngọt mới ra lò, do mình tự nướng lấy. Thi thoảng, sẽ có một cuộc bình sách nho nhỏ, giữa những người cùng gu…

Một ngôi nhà như thế, một quán sách như thế thì sẽ hết bao nhiêu tiền nhỉ?

Có lần mình thố lộ ý muốn mở quán café sách với anh Hoàng, anh nhắc “CF có hình dung được rằng, mở quán café sách thì em sẽ phải chấp nhận chuyện chia sẻ sách của em với người lạ, mà, rất nhiều người trong số đó sẽ không biết yêu quý hay giữ gìn sách như em đâu… Thấy sách rách đừng có nóng mặt tống cổ khách ra ngoài nhé!”

Mình cười haha nhưng biết anh nói đúng. Chuyển đổi một công việc đã gắn với mình gần như cả đời để bắt đầu một công việc mới chả dễ dàng gì. Nhưng có lẽ, khó khăn nhất không phải chỉ có chuyện quản lý công việc ấy như thế nào mà còn là chuyện “quản lý” cho được những nếp sống cá nhân đã ăn sâu vào máu của mình ra sao kia…

Ôi, giấc mơ của mình, còn bao lâu nữa…?!

 

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Nguyên Tiêu ăn bánh cốm ngò

banh-com-ngo-17cf

Bánh cốm ngò là món bánh trái đặc biệt của cộng đồng người Hoa ở khu vực miền Đông Nam Bộ, trong đó có Bình Dương. Hàng năm, cứ vào dịp Nguyên Tiêu (rằm tháng Giêng) người Hoa ở quanh khu vực Bình Dương thường đổ về thành phố Thủ Dầu Một để tổ chức lễ rước kiệu Bà Thiên Hậu, biểu diễn lân sư rồng, đi cà kheo, dâng đèn hoa, hóa trang diễu hành và làm bánh cốm ngò bán ngay trên đường phố.

Nghe nói, bánh cốm ngò là một nét văn hóa lâu đời đi cùng “không gian tiệm nước” đặc thù của người Hoa chợ lớn. “Tiệm nước”, hiểu nôm na là một quán ăn nhỏ bình dân, buổi sáng thường bán điểm tâm, có mì, hủ tiếu, bánh bao. Buổi chiều bán cà phê, trà và bánh ngọt. Tất nhiên, món bánh ngọt trứ danh đó chính là miếng bánh cốm ngò giòn tan, ngọt lịm, thơm mùi bột và mật mía. Tiệm nước không chỉ là cái… tiệm bán đồ ăn mà còn là một trung tâm văn hóa thu nhỏ, nơi người ta ghé qua để hỏi thăm thông tin bà con xa bạn bè gần hoặc tìm nhau uống miếng trà, ăn miếng bánh ngồi nói chuyện dân tình thế thái. Theo dòng di dân, “bánh cốm ngò” từ Sài Gòn chợ lớn lan tới các vùng sông nước miền Đông Nam Bộ, có mặt trong các buổi lễ lạc, cưới xin, giỗ chạp, cúng quẩy và dần trở thành một món ăn đặc biệt không thể thiếu trong ngày Tết Nguyên Tiêu.

Tôi có hỏi ông chủ một gánh bánh cốm ngò vì sao bánh cốm lại ngọt như vậy, ông cho biết người Hoa coi bánh cốm là một trong năm món lễ lạc tạo thành mâm “Ngũ Phúc” đầu năm, gồm có bánh pía, kẹo đậu phộng, mè láo, kẹo dẻo và bánh cốm ngò. Cả 5 món đều dùng ngũ cốc, mạch nha, trứng gà, đường mía làm nguyên liệu chính, với ý mong năm mới được vui vầy sum họp, no ấm, thắm thiết, an lành.

Để có thể làm bánh cốm nhanh, gọn ngay trên hè phố, các công đoạn chuẩn bị như nhồi bột, cán sợi, chiên qua đã được làm trước ở nhà. Tới lễ hội, người ta chỉ còn biểu diễn tại chỗ những công đoạn cuối cùng. Bánh cốm có giòn lâu, thơm ngon hay không phụ thuộc rất nhiều vào cách nhồi bột, chiên bánh, ngào đường, thêm hương liệu. Để phù hợp thị hiếu, bánh cốm ngò đã bớt đường, bớt mật. Ngoài bánh truyền thống còn có bánh chay hoặc biến tấu chút đỉnh, thêm sầu riêng, sữa tươi, cốt dừa để làm tăng độ béo, thêm lá dứa, vani, cà phê, nho khô, dâu tây để tăng hương vị.

Tôi không hỏi kỹ nguyên liệu làm bánh cốm vì hiểu đó là bí quyết làm ăn của người ta nên chỉ hỏi chuyện mấy câu rồi xin đứng lại xem làm bánh, chụp hình.

banh-com-ngo-2cf

Dầu được đun rất nóng, sau đó thả cọng bột mì  đã sơ chế vào

banh-com-ngo-4cf

Cọng mì đã nở đủ độ, vàng giòn thì dùng vợt vớt ra

banh-com-ngo-5cf

Cọng mì đã chiên giòn được trữ rất nhiều, chờ làm cốm

banh-com-ngo-6cf

Đường, mạch nha, mật ong và nước được nấu lên, gọi là thắng nước đường

banh-com-ngo-8cf

Trong khi chờ nước đường “tới” thì  chuẩn bị khuôn

banh-com-ngo-9cf

Đường đã tới, sánh, chạy vân và tỏa mùi đường thắng rất thơm

banh-com-ngo-10cf

Cho cốm đã chiên giòn vào nước đường, xào thật nhanh tay trên chảo cho cốm ngấm đường hoàn toàn

banh-com-ngo-11cf

Đổ cốm đã ngào ra khuôn, dùng chày ém chặt để cốm dính vào nhau

banh-com-ngo-12cf

Dùng thanh gỗ dẹp cà thật đều để cốm phẳng, sát vào thành khuôn

banh-com-ngo-13cf

Rải đều ngò rí đã cắt nhuyễn lên mặt cốm

banh-com-ngo-14cf

Dùng thước chia cốm thành những phần đều nhau

banh-com-ngo-16cf

Tách cốm thành miếng, cho vào túi

Nghe tiếng chào mời, tiếng bán mua, tiếng chúc nhau năm mới an khang, tốt lành bằng cả tiếng Hoa, tiếng Việt. Nhìn giọt mồ hôi lấp loáng trên ngực, trên trán những thanh niên đang cần mẫn sên đường đóng bánh. Ngắm nụ cười thoải mái rạng rỡ của người bán người mua… Tôi chợt vân vi.

Thật ra, ở đâu thì người dân cũng mong được an ổn để mưu sinh, lập nghiệp và mưu cầu no ấm, hạnh phúc, thuận hòa. Và, dù có thế nào đi nữa, ta cũng chỉ bài xích một chế độ, một chính sách, một mối quan hệ chứ không ai bài xích một dân tộc hay một nền văn hóa có nhiều nét đẹp cổ truyền.

Biết thế, nhưng vẫn không thể gạt hết những vướng víu, cách ngăn trong lòng…!

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Lễ hội rước kiệu Bà, Bình Dương

le-ruoc-ba-thien-hau-b

Lễ hội rước kiệu Bà Thiên Hậu vừa diễn ra xong hôm qua. Giờ ngồi trong nhà nhưng tôi vẫn còn nghe dư âm của Lễ Hội từ những tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chỏe đập phèng phèng ngoài đường vọng vào. Đây là năm đầu tiên tôi chính thức đi xem rước kiệu và bước vào bên trong Miếu Bà dù đã ở đây gần chục năm trời và Miếu Bà nằm ngay trên đường tôi đi làm hàng ngày.

Miếu Bà, gọi đầy đủ là Miếu Bà Thiên Hậu, tên chữ là Thiên Hậu Cung, do cộng động người Hoa sinh sống tại Bình Dương lập nên để thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu. Theo văn tự ghi lại trong miếu, bà sinh vào thời Tống Kiến Long, là con thứ 6 của gia đình họ Lâm ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Tương truyền, khi mới lọt lòng bà đã toả ánh hào quang và hương thơm. Lớn lên Bà thường cưỡi thảm bay lượn trên biển, du ngoạn nhiều nơi, nghĩa hiệp, từ bi, hay cứu người độ thế. Đến đời Tống Ung Hy, Bà từ giã cõi trần và hiển linh. Đời Nguyên, Bà được phong là Thiên Phi, đến đời Thanh, vua Khang Hy gia phong làm Thiên Hậu và danh hiệu Thiên Hậu tồn tại cho đến nay.

Trong những năm Trung Quốc tao loạn, một số người Hoa vượt biển xuôi về phương Nam Việt Nam tìm đất sống. Cùng với chuyến hải trình đó, họ rước theo Bà Thiên Hậu để cầu mong Bà phù hộ độ trì cho họ vượt qua tai ương sóng gió. Sau khi đã an cư lạc nghiệp, họ cùng nhau lập miếu thờ cúng Bà để tỏ lòng tôn kính biết ơn.

Dư địa chí Bình Dương có ghi lại rằng “Không biết miếu bà Thiên Hậu được xây cất năm nào, chỉ biết lúc đầu ngôi miếu tọa lạc bên rạch Hương Chủ Hiếu. Đến năm 1923, sau khi ngôi miếu ấy bị hỏa hoạn thì bốn Bang người Hoa lớn nhất Bình Dương là Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ cùng chung sức tái tạo ngôi miếu mới tọa lạc ở số 4 Nguyễn Du, Tp Thủ Dầu Một ngày nay.”

le-ruoc-ba-thien-hau-5b

Hàng năm, lễ hội rước kiệu Bà được tổ chức rất trọng thể và mang đậm bản sắc cổ truyền của người Hoa, diễn ra trong 3 ngày 13-14-15 tháng Giêng. Phần Lễ được tổ chức riêng, từ đêm 14 và kết thúc với phần Hội vào chiều 15 bằng việc rước cộ (kiệu) Bà từ Miếu Bà tuần du qua một số trục đường chính quanh chợ Thủ Dầu Một và những khu vực có đông người Hoa sinh sống, sau đó trở về lại Miếu. Đi đầu đoàn rước là cờ phướn và tấm liễn ghi 4 chữ “Thiên Hậu xuất cung”, kế tiếp là kiệu Bà Thiên Hậu, sau đó là các đội lân sư rồng, xe hoa, và nhiều nhân vật hóa trang từ các tuồng tích của người Hoa…

Lễ hội rước Bà Thiên Hậu trở thành một trong những lễ hội đầu năm lớn nhất Bình Dương và thu hút rất đông dân địa phương và khách du lịch. Về ý nghĩa và giá trị văn hóa riêng của lễ hội này đối với vùng đất Đông Nam Bộ nói chung và Bình Dương nói riêng, nếu quan tâm, chúng ta có thể tra khảo để biết thêm rất nhiều chi tiết cụ thể trên các trang web. Ở đây, tôi chỉ thắc mắt chuyện tên gọi của lễ hội. Người dân Bình Dương thường nôm na gọi Lễ hội rước Vía bà Thiên Hậu là lễ hội Chùa Bà và miếu Bà Thiên Hậu được gọi là Chùa Bà. Có lẽ, vì người dân nhầm lẫn giữa Chùa, Đền và Miếu.

le-ruoc-ba-thien-hau-31b

Theo tôi tìm hiểu, Chùa là nơi truyền bá Phật giáo và thờ Phật. Đền là nơi thờ các vị Thánh hiển linh (như đền Quán Thánh, đền Bạch Mã) hoặc các nhân vật lịch sử có công với dân với nước và được tôn thánh (như đền Hùng, thờ các vua Hùng; đền Trần, thờ đức thánh Trần – tức là Quốc công Trần Hưng Đạo) còn miếu là nơi thờ Thần (các vị thần theo dân gian như Sơn Thần, Thổ Địa, Hà Bá) hoặc các nhân vật đặc biệt nào đó, song mất vào “giờ linh” nên thành thần (vì vậy mới có Miếu Cô, Miếu Cậu,…). Người dân miền Nam còn gọi Miếu là Miễn (Miễu Bà Chúa Xứ).

Giữa Đền và Miếu có thể có một chút nhầm lẫn do cách thức rước lễ, cúng bái, thờ phụng hơi giống nhau nhưng không thể nhầm Chùa với Đền/Miếu.

Ở trước cổng Miếu Bà, có 3 chữ Thiên Hậu Cung rất lớn, bên trong người ta ghi rõ ràng là Miếu Bà. Còn Miếu Bà vừa được xây dựng ở Thành Phố mới, người ta đắp nổi 4 chữ “Miếu Bà Thiên Hậu” ngay cổng ra vào. Cứ cho là người dân từ nhầm lẫn ban đầu đã gọi Miếu Bà là Chùa Bà, và thành nếp gọi, không thay đổi được nữa. Nhưng tôi thấy lạ là báo chí truyền thông cũng vô tư theo dân gọi sai, từ báo chính thống có uy tín tới báo lá cải. Thậm chí, ngay cả trang Du Lịch Bình Dương cũng thoải mái giới thiệu Lễ Hội Chùa Bà, và gọi ngay Miếu Bà Thiên Hậu trên thành phố mới là Chùa Bà Thiên Hậu. Trang duy nhất gọi đúng chính là trang Wikipedia.

Thật kỳ lạ…!

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TẠI LỄ HỘI VÍA BÀ

4 giờ chiều, người dân và khách du lịch đổ về khu vực Miếu Bà để xem rước Kiệu.

le-ruoc-ba-thien-hau-1b

le-ruoc-ba-thien-hau-2b

Các đội Lân Sư Rồng chuẩn bị biểu diễn

le-ruoc-ba-thien-hau-3b

le-ruoc-ba-thien-hau-6b

Nhang đèn, vàng mã bán cạnh Miếu Bà.

le-ruoc-ba-thien-hau-4b

Nhang Đại – một trong 3 món lễ không thể thiếu khi vào hành lễ trong Miếu Bà.

le-ruoc-ba-thien-hau-7b

Ngoài trầu cau, vàng mã thì hoa sen, hoa huệ và cây thần tài (có người gọi là cây trường sinh) là 3 loại hoa được chuộng nhất trong mùa lễ hội này.

le-ruoc-ba-thien-hau-8b

le-ruoc-ba-thien-hau-9b

Chen nhau vào Miếu thắp hương, khấn lễ. Khách viếng có thể mua bao nhiêu hương tùy thích, đốt bao nhiêu hương bên ngoài cũng được, nhưng chỉ được phép cầm 1 cây vào bên trong Miếu, do không gian miếu quá hẹp, còn lượng khách và đèn nhang quá lớn.

le-ruoc-ba-thien-hau-11b

le-ruoc-ba-thien-hau-18b

Nơi đốt hương trong sân Miếu.

le-ruoc-ba-thien-hau-10b

Bàn thiên, nơi đặt lễ vật, nhang đèn, vàng mã…

le-ruoc-ba-thien-hau-12b

Thả chim phóng sanh, một tập tục không thể thiếu của người Hoa khi đi lễ Bà Thiên Hậu.

le-ruoc-ba-thien-hau-13b

le-ruoc-ba-thien-hau-14b

Chờ xem cộ (kiệu) trở về Miếu

le-ruoc-ba-thien-hau-23b

Múa Hẩu của người Hoa thuộc bang Phúc Kiến – Hẩu là con Kim Mao sư (sư tử lông vàng) là con thú chúa của loài thú. Múa Hẩu không có ông địa đi theo như múa Lân, Hẩu cũng không leo trèo vờn cầu giỡn đèn như Lân. Hẩu dẫn đầu đoàn rước với ngụ ý muốn xua đuổi hoặc răn đe những cái xấu, cái ác. (trích Wikipedia)

le-ruoc-ba-thien-hau-19b

Múa Hẩu, kèm theo phun lửa, theo sau là cờ phướn và Kiệu Bà.

le-ruoc-ba-thien-hau-20b

Xe hoa, có Đế Thiên, Đế Thích…

le-ruoc-ba-thien-hau-21b

Múa Rồng

le-ruoc-ba-thien-hau-22b

Múa Phụng – trên lưng Phụng có các ngọc nữ (do các em nhỏ người Hoa hóa trang)

le-ruoc-ba-thien-hau-24b

Đoàn Lân múa cuối buổi Lễ.

le-ruoc-ba-thien-hau-25b

Kết thúc lễ hội rước Kiệu Bà vào 6h chiều, 15 tháng Giêng.

le-ruoc-ba-thien-hau-26b

le-ruoc-ba-thien-hau-29b

le-ruoc-ba-thien-hau-30b

le-ruoc-ba-thien-hau-27b

Ghi chú:

Tôi dùng máy ảnh thông thường, ống kính 50 nên không thể chụp gốc rộng để lấy được toàn cảnh sự náo nhiệt, hoành tráng và rực rỡ của Lễ hội này. Dưới đây là một số link bài báo ảnh đăng về Lễ hội “chùa” Bà, ảnh đẹp, chất lượng tốt, vị trí chụp từ trên cao nên bao quát toàn cảnh.

Hàng chục nghìn người trẩy hội chùa Bà Bình Dương, báo Vnexpess.

Lễ hội rước kiệu Bà đầy màu sắc ở Bình Dương, báo Zing

Chùm ảnh biển người đổ về Bình Dương tham dự lễ rước chùa bà Thiên Hậu, Kênh 14.vn

   (chài ai, người ta rước kiệu Bà chứ ai rước “chùa” Bà mần chi…!!! 😀 )

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Tạp bút

Đào hoa lưu thủy…

tao-dan-2017-6b

Cuối cùng, tôi cũng tìm được một cây đào-còn-hoa ở công viên Tao Đàn sau 1 tiếng đồng hồ mệt nhoài chạy xe máy từ Thủ Đức xuống Quận nhứt, 30 phút kẹt trong bãi giữ xe và gần 2 tiếng bươn bả kiếm tìm giữa biển người hoa đặc nghẹt chiều mồng 3 Tết. Cây đào đứng một mình trong góc khuất, tựa lưng vào đền Tưởng niệm các Vua Hùng, gần như tách ra khỏi đám hoa sứ, hoa lan, hoa cúc, hoa mai đua chen khoe sắc; trông vừa cô đơn vừa kiêu hãnh, như thể thân này chỉ vì vô tình mà lưu lạc nhân gian.

Không phải người Sài Gòn không trân quý đào bằng mai bằng cúc nên không dành cho nó một chỗ trưng bày thật đẹp ngoài kia. Thật ra, để giữ cho cây đào được tươi, cành lá đừng héo, nụ đừng rụng và đủ sức bung bông trọn ba ngày tết người ta đã phải tìm cho nó một chỗ có nhiều bóng râm đặng che bớt nắng và thường xuyên đặt các khối nước đá quanh gốc đào để giảm nhiệt.

tao-dan-2017-7b

Tìm được cây đào, cảm giác sung sướng vỡ òa xen lẫn nghẹn ngào khi ngước nhìn những đóa hoa dù hồng thắm thế nào cũng không che được dáng vẻ mong manh, tả tơi, gầy héo dưới cái nắng chói gắt phương Nam. Chẳng biết do mồ hôi hay hơi thở cố nén, mắt kính tôi cứ nhòe đi, càng đưa tay lau càng mờ mịt…

Thích hoa đào là vậy, song tôi lại không rành phân biệt đâu là đào bích, đào phai, đào má hồng, đào thất thốn. Chỉ đoán chừng cây đào này chắc được đưa về từ xứ Bắc vì màu hoa thắm đậm, cánh dày và nhiều; không giống loại đào thân mốc lốm đốm, trắng bạc, xù xì, nhiều cành, ít hoa, mỗi hoa chỉ có năm cánh đơn xếp mí xoay tròn, phơn phớt hồng được trồng chơi ở Đà Lạt. Tôi vẫn nhớ, người ta gọi giống đào ấy là đào ta, hoặc đào dại, bởi chúng thường mọc tự do ở bờ rào, trên đầu dốc, dưới thung sâu hay được trồng riêng một góc trong sân vườn để ngắm hay tặng nhau chứ không ai bày bán.

tao-dan-2017-17b

Ngày xuân, người ta bứng cả cây đào cho vào chiếc bình riêng thật lớn, cổ cao, màu nâu hoặc màu xanh lục, đưa vô phòng khách, rồi treo lên cành đào những lá thiếp bên trong cài mẫu giấy pơ luya được nắn nót ghi những lời chúc tốt lành kèm bao lì xì nho nhỏ. Trẻ con đến nhà sẽ được tận tay vin cành “hái lộc” còn người lớn ngoài uống trà ngắm hoa sẽ có thú vui đứng đọc lời chúc trong cánh thiếp. Sau tết cây đào lại được mang ra vườn trồng xuống đất để uống gió sương, vươn mình giữ thế đứng bạt phong kiêu hãnh của mình.

Trong công viên, bóng chiều đổ xuống rất nhanh; người ta không kịp chờ nắng tắt đã vội bật đèn màu… Tôi tiếc nuối nhìn màu hoa chìm dần vào tối. Tự nhiên nghĩ đến câu “Đào hoa lưu thủy…” mà nhà văn Minh Tự nhắc đến trong tạp bút Hoa đào trên đỉnh Bạch Mã.

Chuyện là, trên đỉnh Bạch Mã đến giờ vẫn còn lưu lại 2 cây mai anh đào Đà Lạt được thầy Tôn Thất Lôi – một vị huynh trưởng hướng đạo – trồng từ hơn 50 năm về trước. Một trong hai cây anh đào ấy chính là cây anh đào lưu giữ ký ức một thời tuổi trẻ và là kỷ vật kết nối cho một tình yêu mà ông nhà văn “dặn lòng sẽ có ngày trở về lại ngọn – núi – ảo – ảnh để tìm cho bằng được cây anh đào đã lặng lẽ khoe sắc hồng rực rỡ bao mùa xuân rồi giữa núi rừng hoang vu”

tao-dan-2017-13b

Thế rồi, mấy chục năm sau, nhân dịp theo bạn lên núi Bạch Mã, ông cố công tìm lại cây mai anh đào năm xưa. Cuối cùng, ông cũng tìm được một cây đào, có điều cây đào này không phải là cây mai anh đào năm đó. Nhìn màu hoa hồng tươi làm sáng lên cả một vùng lau lách đìu hiu, ông thảng thốt nhớ ra câu thơ tiên giáng “Đào hoa lưu thủy bận tâm làm gì…” được ghi dưới chân núi Bạch Mã, và lặng lẽ quay trở về. Đêm đó, ông cùng người bạn bày tiệc rượu dưới cội mai anh đào nằm bên hiên biệt thự Bạch Mã. Theo ông kể, đó là bữa tiệc rượu thần tiên, “thoảng một vài cánh hoa phớt hồng rơi xuống ly rượu, và sương mù thì cứ cuồn cuộn bay qua, đọng thành những hạt băng trên cành hoa khẳng khiu và rơi xuống ướt đẫm vai áo. Không khí như thể ngưng đọng lại cùng với mùi hương hoa đào ướp trong giá lạnh…”

tao-dan-2017-5b

Vẫn biết, cây đào lặng lẽ nở hoa trên đỉnh Bạch mã của nhà văn Minh Tự, cây đào Bạt Phong thung dung ở Đà Lạt hay cây đào thắm thiết giữa Tao Đàn rồi cũng chỉ là chuyện đào hoa lưu thủy, nước chảy mây trôi mà sao lòng vẫn không thể nguôi thương nhớ, kiếm tìm…

Xuân 2017

CF&S