Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Vỹ thanh

Tạm biệt, phút ban đầu…

Cách đây hơn 40 năm, mùa hè 1975 – bản tình ca L’été Indien do hai tác giả người Pháp Pierre Delanoë và Claude Lemesle chuyển tác từ Indian Summer – được Joe Dassin cất lời và ngay lập tức trở thành ca khúc ăn khách nhất trong suốt cuộc đời thăng trầm của Joe. Trong vòng 6 tháng kể từ lúc thu âm,  L’été Indien đã được phát hành hơn 2 triệu bản – bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha, lưu hành  tại 25 quốc gia khác nhau khắp thế giới, thậm chí chinh phục cả Ba Lan, Tiệp Khắc và Liên Xô cũ…

Thật ra, L’été Indien ban đầu vốn có tựa là Africa, do nhạc sĩ người Ý Toto Cutugno sáng tác. Ngay cái tên Africa của nó  đã cho thấy bản nhạc nguyên thủy không dính dáng gì đến tình yêu đôi lứa. Africa được viết theo cấu trúc độc thoại mô tả nội tâm của một người Phi nhập cư trên đất Mỹ – cô độc, lẻ loi nơi đất khách, rồi một hôm mỏi mệt chạnh lòng nhớ về cố hương… vì vậy phần tự sự rất dài. Thêm một điều ngạc nhiên, thời điểm L’été Indien (tức là Africa ban đầu, hay Indian Summer, bản tiếng Anh sau đó) được sáng tác không phải vào mùa hè như cái tên dễ gây nhầm lẫn của nó mà lại rơi chênh chếch vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 – thời điểm vào thu ở khu vực Bắc Mỹ, có trời xanh, có, lá vàng, có nắng đẹp, nhưng hanh hao và gợi nhớ đến nao lòng.

Nghe nói, khi thâu âm L’été Indien, Joe Dassin cũng đang rơi vào giai đoạn “vào thu” của cuộc đời – giai đoạn nhạy cảm, dễ tổn thương và bế tắc khi mất đi đứa con đầu lòng, trầm cảm hành hạ nặng nề, gia đình tan vỡ, chứng nghiện rượu khiến anh mất đi nhiều cơ hội thăng tiến, sự nghiệp âm nhạc cũng bắt đầu tuột dốc…

Có lẽ vì vậy nên Joe Dassin đã thành công khi thể hiện đoạn độc thoại ấy bằng chất giọng trầm khàn, nghèn nghẹn pha chút u uẩn đặc biệt của một người biết rõ về những điều đẹp đẽ, mong manh, trân quý nhất trong cuộc đời như tình yêu, hạnh phúc và niềm tin đang dần trôi qua tay mình mà không sao níu giữ được. Sau này, anh Tuấn Thảo, biên tập viên âm nhạc của tạp chí RFI đã mô tả đoạn thoại của Joe là “lối nhả chữ dạt dào theo từng nhịp điệu, dập dìu nhưng không bao giờ chịu vỡ oà, như thể cất lên từ con tim của người đàn ông đớn đau muốn khóc, nhưng trí óc vẫn buộc mình tự chủ tiết chế…”

Ở Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy thêm một lần nữa phổ nhạc thành công L’été Indien thành bản tình ca da diết mang tên “Mới hôm nào”, được danh ca Elvis Phương và nữ ca sĩ Ngọc Lan thể hiện rất ngọt ngào.

Mới hôm nào, tình yêu đã trao ta phút êm đềm

Bao chiếc hôn say sưa mặn nồng mình yêu nhau tưởng không hề phai

Có đâu ngờ, tình yêu đã xa và em không còn

Môi mắt ấy bây giờ thêm xót xa…

***

Hôm nay, trong hộp thoại  của tôi, Ly Vân để lại lời nhắn” Q ơi, hình như anh Hoàng đã deactive fb rồi”

Tôi – Vân – và anh Hoàng là bộ ba từ thời Yume còn rộn ràng tấp nập. Vân điểm phim, anh Hoàng điểm nhạc, còn tôi điểm sách. Đam mê, tuổi trẻ, sự thấu hiểu khiến chúng tôi gần nhau, dù mỗi chúng tôi đều có cuộc đời riêng – rất khác – ngoài trang viết.

Lời nhắn của Vân làm tôi khựng lại. Lâu nay, tôi lười vào fb của anh Hoàng, thậm chí lười cả việc gửi đi vài cái like đơn giản nhất để thay lời đồng cảm với những bản nhạc mà anh yêu thích.

Tôi không hoài nghi bất cứ điều gì, cũng không cố ý giải thích hay biện minh. Quen nhau hơn 10 năm, tôi hiểu, anh đã mỏi mệt. Và anh có quyết định của riêng mình. Vì thế, tối nay, thay vì inbox cho anh. Tôi chọn cách nghe lại L’été Indien, như một cách nhớ về mùa thu đầy nắng, đầy gió, đầy niềm vui và cũng ăm ắp nỗi niềm mà tất cả chúng tôi đã từng chia sẻ. Một mùa thu của “tuổi trẻ lạc lối”, như mùa thu tháng mười mênh mang, chông chênh nào đó, trong câu hát của Joe…

Tu sais
Je n’ai jamais été aussi heureux que ce matin-là
Nous marchions sur une plage un peu comme celle-ci
C’était l’automne
Un automne où il faisait beau
Une saison qui n’existe que dans le Nord de l’Amérique
Là-bas on l’appelle l’été indien
Mais c’était tout simplement le nôtre
Avec ta robe longue
Tu ressemblais à une aquarelle de Marie Laurencin
Et je me souviens
Je me souviens très bien de ce que je t’ai dit ce matin-là
Il y a un an, y a un siècle, y a une éternité…

Bản L’été Indien được phối lại bằng công nghệ hiện đại: song ca ảo với giọng ca của Hélène Ségara, nằm trong album Et si tu n’existais pas (Nếu vắng anh trong đời) để tưởng niệm 30 năm ngày mất của Joe Dassin.

 

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Niềm riêng

Về thôi,

Chưa bao giờ tâm tưởng “về nhà” lại rõ ràng và thôi thúc như lúc này… Không phải mình muốn về chỉ vì nhớ, hay muốn về dăm ba ngày để cố hít lấy hít để cho đầy buồng phổi hơi đất, hơi nước, hơi gió rồi lại ra đi. Cái gọi là “nhớ” ấy đã phai nhạt trong mình nhiều lắm rồi, đến mức, mỗi khi có chuyện cần về, mình lại thấy mình thành kẻ lữ khách bơ vơ tội nghiệp ngay giữa lòng Đà Lạt. Thế nên hết việc là mình ra đi. Những ngày về thăm ngắn dần, còn nỗi nhớ đầy đặn ngày xưa giờ mỏng tang, mơ hồ, lãng đãng.

Vậy mà giờ đây, ý định trở về cứ hiện hữu trong mình, lớn dần lên từng ngày, từng ngày. Mình ăn cũng nghĩ đến nó, ngủ cũng nghĩ đến nó, cả khi làm việc, thì ý nghĩ “về nhà” cũng không buông bỏ. Mình sẽ bán nhà cũ đi, nhỉ? Rồi gom hết tiền bấy lâu dành dụm được, cộng với cả tiền vay mượn của anh em, mình sẽ kiếm miếng đất nào đó rộng rãi xa xa thành phố một chút, về phía ấp Cô Giang hay sau đồi Mai Anh chẳng hạn. Ví dụ thế, rồi mình xây 1 ngôi nhà, nhỏ thôi, nhưng phải có một cái sân gạch màu nâu đỏ bên hiên nhà, cửa sổ nhất định sẽ gắn loại khung sắt uốn lượn hoa văn thật thanh nhã. Cửa lớn bên ngoài chắc là bằng gỗ, sơn màu xanh lam, không biết như thế có hợp không, nhưng cứ vẽ lên trong đầu như vậy. Đồ đạc trong nhà đơn giản, càng tiết giảm càng tốt, nhưng bếp nhất thiết phải thật đầy đủ, có cả những kệ gỗ dài gắn trên tường để mình sắp xếp, bày biện những bộ bát đũa ấm chén mà mình nhặt nhạnh sưu tập suốt 5 năm nay. Không gian trước nhà sẽ thiết kế thành 1 quán cà phê sách, đặt 5-7 bộ bàn ghế bé bé nhưng thật thoải mái khi ngồi, phần không gian dư ra chắc dành cho cây cối, sen đá, và mấy bức tượng gốm. Mình sẽ tự tay xếp sách, tự tay rang xay pha chế café theo kiểu của mình. Không gian sách ấy sẽ thoang thoảng thơm mùi bánh ngọt mới ra lò, do mình tự nướng lấy. Thi thoảng, sẽ có một cuộc bình sách nho nhỏ, giữa những người cùng gu…

Một ngôi nhà như thế, một quán sách như thế thì sẽ hết bao nhiêu tiền nhỉ?

Có lần mình thố lộ ý muốn mở quán café sách với anh Hoàng, anh nhắc “CF có hình dung được rằng, mở quán café sách thì em sẽ phải chấp nhận chuyện chia sẻ sách của em với người lạ, mà, rất nhiều người trong số đó sẽ không biết yêu quý hay giữ gìn sách như em đâu… Thấy sách rách đừng có nóng mặt tống cổ khách ra ngoài nhé!”

Mình cười haha nhưng biết anh nói đúng. Chuyển đổi một công việc đã gắn với mình gần như cả đời để bắt đầu một công việc mới chả dễ dàng gì. Nhưng có lẽ, khó khăn nhất không phải chỉ có chuyện quản lý công việc ấy như thế nào mà còn là chuyện “quản lý” cho được những nếp sống cá nhân đã ăn sâu vào máu của mình ra sao kia…

Ôi, giấc mơ của mình, còn bao lâu nữa…?!

 

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Nguyên Tiêu ăn bánh cốm ngò

banh-com-ngo-17cf

Bánh cốm ngò là món bánh trái đặc biệt của cộng đồng người Hoa ở khu vực miền Đông Nam Bộ, trong đó có Bình Dương. Hàng năm, cứ vào dịp Nguyên Tiêu (rằm tháng Giêng) người Hoa ở quanh khu vực Bình Dương thường đổ về thành phố Thủ Dầu Một để tổ chức lễ rước kiệu Bà Thiên Hậu, biểu diễn lân sư rồng, đi cà kheo, dâng đèn hoa, hóa trang diễu hành và làm bánh cốm ngò bán ngay trên đường phố.

Nghe nói, bánh cốm ngò là một nét văn hóa lâu đời đi cùng “không gian tiệm nước” đặc thù của người Hoa chợ lớn. “Tiệm nước”, hiểu nôm na là một quán ăn nhỏ bình dân, buổi sáng thường bán điểm tâm, có mì, hủ tiếu, bánh bao. Buổi chiều bán cà phê, trà và bánh ngọt. Tất nhiên, món bánh ngọt trứ danh đó chính là miếng bánh cốm ngò giòn tan, ngọt lịm, thơm mùi bột và mật mía. Tiệm nước không chỉ là cái… tiệm bán đồ ăn mà còn là một trung tâm văn hóa thu nhỏ, nơi người ta ghé qua để hỏi thăm thông tin bà con xa bạn bè gần hoặc tìm nhau uống miếng trà, ăn miếng bánh ngồi nói chuyện dân tình thế thái. Theo dòng di dân, “bánh cốm ngò” từ Sài Gòn chợ lớn lan tới các vùng sông nước miền Đông Nam Bộ, có mặt trong các buổi lễ lạc, cưới xin, giỗ chạp, cúng quẩy và dần trở thành một món ăn đặc biệt không thể thiếu trong ngày Tết Nguyên Tiêu.

Tôi có hỏi ông chủ một gánh bánh cốm ngò vì sao bánh cốm lại ngọt như vậy, ông cho biết người Hoa coi bánh cốm là một trong năm món lễ lạc tạo thành mâm “Ngũ Phúc” đầu năm, gồm có bánh pía, kẹo đậu phộng, mè láo, kẹo dẻo và bánh cốm ngò. Cả 5 món đều dùng ngũ cốc, mạch nha, trứng gà, đường mía làm nguyên liệu chính, với ý mong năm mới được vui vầy sum họp, no ấm, thắm thiết, an lành.

Để có thể làm bánh cốm nhanh, gọn ngay trên hè phố, các công đoạn chuẩn bị như nhồi bột, cán sợi, chiên qua đã được làm trước ở nhà. Tới lễ hội, người ta chỉ còn biểu diễn tại chỗ những công đoạn cuối cùng. Bánh cốm có giòn lâu, thơm ngon hay không phụ thuộc rất nhiều vào cách nhồi bột, chiên bánh, ngào đường, thêm hương liệu. Để phù hợp thị hiếu, bánh cốm ngò đã bớt đường, bớt mật. Ngoài bánh truyền thống còn có bánh chay hoặc biến tấu chút đỉnh, thêm sầu riêng, sữa tươi, cốt dừa để làm tăng độ béo, thêm lá dứa, vani, cà phê, nho khô, dâu tây để tăng hương vị.

Tôi không hỏi kỹ nguyên liệu làm bánh cốm vì hiểu đó là bí quyết làm ăn của người ta nên chỉ hỏi chuyện mấy câu rồi xin đứng lại xem làm bánh, chụp hình.

banh-com-ngo-2cf

Dầu được đun rất nóng, sau đó thả cọng bột mì  đã sơ chế vào

banh-com-ngo-4cf

Cọng mì đã nở đủ độ, vàng giòn thì dùng vợt vớt ra

banh-com-ngo-5cf

Cọng mì đã chiên giòn được trữ rất nhiều, chờ làm cốm

banh-com-ngo-6cf

Đường, mạch nha, mật ong và nước được nấu lên, gọi là thắng nước đường

banh-com-ngo-8cf

Trong khi chờ nước đường “tới” thì  chuẩn bị khuôn

banh-com-ngo-9cf

Đường đã tới, sánh, chạy vân và tỏa mùi đường thắng rất thơm

banh-com-ngo-10cf

Cho cốm đã chiên giòn vào nước đường, xào thật nhanh tay trên chảo cho cốm ngấm đường hoàn toàn

banh-com-ngo-11cf

Đổ cốm đã ngào ra khuôn, dùng chày ém chặt để cốm dính vào nhau

banh-com-ngo-12cf

Dùng thanh gỗ dẹp cà thật đều để cốm phẳng, sát vào thành khuôn

banh-com-ngo-13cf

Rải đều ngò rí đã cắt nhuyễn lên mặt cốm

banh-com-ngo-14cf

Dùng thước chia cốm thành những phần đều nhau

banh-com-ngo-16cf

Tách cốm thành miếng, cho vào túi

Nghe tiếng chào mời, tiếng bán mua, tiếng chúc nhau năm mới an khang, tốt lành bằng cả tiếng Hoa, tiếng Việt. Nhìn giọt mồ hôi lấp loáng trên ngực, trên trán những thanh niên đang cần mẫn sên đường đóng bánh. Ngắm nụ cười thoải mái rạng rỡ của người bán người mua… Tôi chợt vân vi.

Thật ra, ở đâu thì người dân cũng mong được an ổn để mưu sinh, lập nghiệp và mưu cầu no ấm, hạnh phúc, thuận hòa. Và, dù có thế nào đi nữa, ta cũng chỉ bài xích một chế độ, một chính sách, một mối quan hệ chứ không ai bài xích một dân tộc hay một nền văn hóa có nhiều nét đẹp cổ truyền.

Biết thế, nhưng vẫn không thể gạt hết những vướng víu, cách ngăn trong lòng…!

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Lễ hội rước kiệu Bà, Bình Dương

le-ruoc-ba-thien-hau-b

Lễ hội rước kiệu Bà Thiên Hậu vừa diễn ra xong hôm qua. Giờ ngồi trong nhà nhưng tôi vẫn còn nghe dư âm của Lễ Hội từ những tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chỏe đập phèng phèng ngoài đường vọng vào. Đây là năm đầu tiên tôi chính thức đi xem rước kiệu và bước vào bên trong Miếu Bà dù đã ở đây gần chục năm trời và Miếu Bà nằm ngay trên đường tôi đi làm hàng ngày.

Miếu Bà, gọi đầy đủ là Miếu Bà Thiên Hậu, tên chữ là Thiên Hậu Cung, do cộng động người Hoa sinh sống tại Bình Dương lập nên để thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu. Theo văn tự ghi lại trong miếu, bà sinh vào thời Tống Kiến Long, là con thứ 6 của gia đình họ Lâm ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Tương truyền, khi mới lọt lòng bà đã toả ánh hào quang và hương thơm. Lớn lên Bà thường cưỡi thảm bay lượn trên biển, du ngoạn nhiều nơi, nghĩa hiệp, từ bi, hay cứu người độ thế. Đến đời Tống Ung Hy, Bà từ giã cõi trần và hiển linh. Đời Nguyên, Bà được phong là Thiên Phi, đến đời Thanh, vua Khang Hy gia phong làm Thiên Hậu và danh hiệu Thiên Hậu tồn tại cho đến nay.

Trong những năm Trung Quốc tao loạn, một số người Hoa vượt biển xuôi về phương Nam Việt Nam tìm đất sống. Cùng với chuyến hải trình đó, họ rước theo Bà Thiên Hậu để cầu mong Bà phù hộ độ trì cho họ vượt qua tai ương sóng gió. Sau khi đã an cư lạc nghiệp, họ cùng nhau lập miếu thờ cúng Bà để tỏ lòng tôn kính biết ơn.

Dư địa chí Bình Dương có ghi lại rằng “Không biết miếu bà Thiên Hậu được xây cất năm nào, chỉ biết lúc đầu ngôi miếu tọa lạc bên rạch Hương Chủ Hiếu. Đến năm 1923, sau khi ngôi miếu ấy bị hỏa hoạn thì bốn Bang người Hoa lớn nhất Bình Dương là Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ cùng chung sức tái tạo ngôi miếu mới tọa lạc ở số 4 Nguyễn Du, Tp Thủ Dầu Một ngày nay.”

le-ruoc-ba-thien-hau-5b

Hàng năm, lễ hội rước kiệu Bà được tổ chức rất trọng thể và mang đậm bản sắc cổ truyền của người Hoa, diễn ra trong 3 ngày 13-14-15 tháng Giêng. Phần Lễ được tổ chức riêng, từ đêm 14 và kết thúc với phần Hội vào chiều 15 bằng việc rước cộ (kiệu) Bà từ Miếu Bà tuần du qua một số trục đường chính quanh chợ Thủ Dầu Một và những khu vực có đông người Hoa sinh sống, sau đó trở về lại Miếu. Đi đầu đoàn rước là cờ phướn và tấm liễn ghi 4 chữ “Thiên Hậu xuất cung”, kế tiếp là kiệu Bà Thiên Hậu, sau đó là các đội lân sư rồng, xe hoa, và nhiều nhân vật hóa trang từ các tuồng tích của người Hoa…

Lễ hội rước Bà Thiên Hậu trở thành một trong những lễ hội đầu năm lớn nhất Bình Dương và thu hút rất đông dân địa phương và khách du lịch. Về ý nghĩa và giá trị văn hóa riêng của lễ hội này đối với vùng đất Đông Nam Bộ nói chung và Bình Dương nói riêng, nếu quan tâm, chúng ta có thể tra khảo để biết thêm rất nhiều chi tiết cụ thể trên các trang web. Ở đây, tôi chỉ thắc mắt chuyện tên gọi của lễ hội. Người dân Bình Dương thường nôm na gọi Lễ hội rước Vía bà Thiên Hậu là lễ hội Chùa Bà và miếu Bà Thiên Hậu được gọi là Chùa Bà. Có lẽ, vì người dân nhầm lẫn giữa Chùa, Đền và Miếu.

le-ruoc-ba-thien-hau-31b

Theo tôi tìm hiểu, Chùa là nơi truyền bá Phật giáo và thờ Phật. Đền là nơi thờ các vị Thánh hiển linh (như đền Quán Thánh, đền Bạch Mã) hoặc các nhân vật lịch sử có công với dân với nước và được tôn thánh (như đền Hùng, thờ các vua Hùng; đền Trần, thờ đức thánh Trần – tức là Quốc công Trần Hưng Đạo) còn miếu là nơi thờ Thần (các vị thần theo dân gian như Sơn Thần, Thổ Địa, Hà Bá) hoặc các nhân vật đặc biệt nào đó, song mất vào “giờ linh” nên thành thần (vì vậy mới có Miếu Cô, Miếu Cậu,…). Người dân miền Nam còn gọi Miếu là Miễn (Miễu Bà Chúa Xứ).

Giữa Đền và Miếu có thể có một chút nhầm lẫn do cách thức rước lễ, cúng bái, thờ phụng hơi giống nhau nhưng không thể nhầm Chùa với Đền/Miếu.

Ở trước cổng Miếu Bà, có 3 chữ Thiên Hậu Cung rất lớn, bên trong người ta ghi rõ ràng là Miếu Bà. Còn Miếu Bà vừa được xây dựng ở Thành Phố mới, người ta đắp nổi 4 chữ “Miếu Bà Thiên Hậu” ngay cổng ra vào. Cứ cho là người dân từ nhầm lẫn ban đầu đã gọi Miếu Bà là Chùa Bà, và thành nếp gọi, không thay đổi được nữa. Nhưng tôi thấy lạ là báo chí truyền thông cũng vô tư theo dân gọi sai, từ báo chính thống có uy tín tới báo lá cải. Thậm chí, ngay cả trang Du Lịch Bình Dương cũng thoải mái giới thiệu Lễ Hội Chùa Bà, và gọi ngay Miếu Bà Thiên Hậu trên thành phố mới là Chùa Bà Thiên Hậu. Trang duy nhất gọi đúng chính là trang Wikipedia.

Thật kỳ lạ…!

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TẠI LỄ HỘI VÍA BÀ

4 giờ chiều, người dân và khách du lịch đổ về khu vực Miếu Bà để xem rước Kiệu.

le-ruoc-ba-thien-hau-1b

le-ruoc-ba-thien-hau-2b

Các đội Lân Sư Rồng chuẩn bị biểu diễn

le-ruoc-ba-thien-hau-3b

le-ruoc-ba-thien-hau-6b

Nhang đèn, vàng mã bán cạnh Miếu Bà.

le-ruoc-ba-thien-hau-4b

Nhang Đại – một trong 3 món lễ không thể thiếu khi vào hành lễ trong Miếu Bà.

le-ruoc-ba-thien-hau-7b

Ngoài trầu cau, vàng mã thì hoa sen, hoa huệ và cây thần tài (có người gọi là cây trường sinh) là 3 loại hoa được chuộng nhất trong mùa lễ hội này.

le-ruoc-ba-thien-hau-8b

le-ruoc-ba-thien-hau-9b

Chen nhau vào Miếu thắp hương, khấn lễ. Khách viếng có thể mua bao nhiêu hương tùy thích, đốt bao nhiêu hương bên ngoài cũng được, nhưng chỉ được phép cầm 1 cây vào bên trong Miếu, do không gian miếu quá hẹp, còn lượng khách và đèn nhang quá lớn.

le-ruoc-ba-thien-hau-11b

le-ruoc-ba-thien-hau-18b

Nơi đốt hương trong sân Miếu.

le-ruoc-ba-thien-hau-10b

Bàn thiên, nơi đặt lễ vật, nhang đèn, vàng mã…

le-ruoc-ba-thien-hau-12b

Thả chim phóng sanh, một tập tục không thể thiếu của người Hoa khi đi lễ Bà Thiên Hậu.

le-ruoc-ba-thien-hau-13b

le-ruoc-ba-thien-hau-14b

Chờ xem cộ (kiệu) trở về Miếu

le-ruoc-ba-thien-hau-23b

Múa Hẩu của người Hoa thuộc bang Phúc Kiến – Hẩu là con Kim Mao sư (sư tử lông vàng) là con thú chúa của loài thú. Múa Hẩu không có ông địa đi theo như múa Lân, Hẩu cũng không leo trèo vờn cầu giỡn đèn như Lân. Hẩu dẫn đầu đoàn rước với ngụ ý muốn xua đuổi hoặc răn đe những cái xấu, cái ác. (trích Wikipedia)

le-ruoc-ba-thien-hau-19b

Múa Hẩu, kèm theo phun lửa, theo sau là cờ phướn và Kiệu Bà.

le-ruoc-ba-thien-hau-20b

Xe hoa, có Đế Thiên, Đế Thích…

le-ruoc-ba-thien-hau-21b

Múa Rồng

le-ruoc-ba-thien-hau-22b

Múa Phụng – trên lưng Phụng có các ngọc nữ (do các em nhỏ người Hoa hóa trang)

le-ruoc-ba-thien-hau-24b

Đoàn Lân múa cuối buổi Lễ.

le-ruoc-ba-thien-hau-25b

Kết thúc lễ hội rước Kiệu Bà vào 6h chiều, 15 tháng Giêng.

le-ruoc-ba-thien-hau-26b

le-ruoc-ba-thien-hau-29b

le-ruoc-ba-thien-hau-30b

le-ruoc-ba-thien-hau-27b

Ghi chú:

Tôi dùng máy ảnh thông thường, ống kính 50 nên không thể chụp gốc rộng để lấy được toàn cảnh sự náo nhiệt, hoành tráng và rực rỡ của Lễ hội này. Dưới đây là một số link bài báo ảnh đăng về Lễ hội “chùa” Bà, ảnh đẹp, chất lượng tốt, vị trí chụp từ trên cao nên bao quát toàn cảnh.

Hàng chục nghìn người trẩy hội chùa Bà Bình Dương, báo Vnexpess.

Lễ hội rước kiệu Bà đầy màu sắc ở Bình Dương, báo Zing

Chùm ảnh biển người đổ về Bình Dương tham dự lễ rước chùa bà Thiên Hậu, Kênh 14.vn

   (chài ai, người ta rước kiệu Bà chứ ai rước “chùa” Bà mần chi…!!! 😀 )

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Tạp bút

Đào hoa lưu thủy…

tao-dan-2017-6b

Cuối cùng, tôi cũng tìm được một cây đào-còn-hoa ở công viên Tao Đàn sau 1 tiếng đồng hồ mệt nhoài chạy xe máy từ Thủ Đức xuống Quận nhứt, 30 phút kẹt trong bãi giữ xe và gần 2 tiếng bươn bả kiếm tìm giữa biển người hoa đặc nghẹt chiều mồng 3 Tết. Cây đào đứng một mình trong góc khuất, tựa lưng vào đền Tưởng niệm các Vua Hùng, gần như tách ra khỏi đám hoa sứ, hoa lan, hoa cúc, hoa mai đua chen khoe sắc; trông vừa cô đơn vừa kiêu hãnh, như thể thân này chỉ vì vô tình mà lưu lạc nhân gian.

Không phải người Sài Gòn không trân quý đào bằng mai bằng cúc nên không dành cho nó một chỗ trưng bày thật đẹp ngoài kia. Thật ra, để giữ cho cây đào được tươi, cành lá đừng héo, nụ đừng rụng và đủ sức bung bông trọn ba ngày tết người ta đã phải tìm cho nó một chỗ có nhiều bóng râm đặng che bớt nắng và thường xuyên đặt các khối nước đá quanh gốc đào để giảm nhiệt.

tao-dan-2017-7b

Tìm được cây đào, cảm giác sung sướng vỡ òa xen lẫn nghẹn ngào khi ngước nhìn những đóa hoa dù hồng thắm thế nào cũng không che được dáng vẻ mong manh, tả tơi, gầy héo dưới cái nắng chói gắt phương Nam. Chẳng biết do mồ hôi hay hơi thở cố nén, mắt kính tôi cứ nhòe đi, càng đưa tay lau càng mờ mịt…

Thích hoa đào là vậy, song tôi lại không rành phân biệt đâu là đào bích, đào phai, đào má hồng, đào thất thốn. Chỉ đoán chừng cây đào này chắc được đưa về từ xứ Bắc vì màu hoa thắm đậm, cánh dày và nhiều; không giống loại đào thân mốc lốm đốm, trắng bạc, xù xì, nhiều cành, ít hoa, mỗi hoa chỉ có năm cánh đơn xếp mí xoay tròn, phơn phớt hồng được trồng chơi ở Đà Lạt. Tôi vẫn nhớ, người ta gọi giống đào ấy là đào ta, hoặc đào dại, bởi chúng thường mọc tự do ở bờ rào, trên đầu dốc, dưới thung sâu hay được trồng riêng một góc trong sân vườn để ngắm hay tặng nhau chứ không ai bày bán.

tao-dan-2017-17b

Ngày xuân, người ta bứng cả cây đào cho vào chiếc bình riêng thật lớn, cổ cao, màu nâu hoặc màu xanh lục, đưa vô phòng khách, rồi treo lên cành đào những lá thiếp bên trong cài mẫu giấy pơ luya được nắn nót ghi những lời chúc tốt lành kèm bao lì xì nho nhỏ. Trẻ con đến nhà sẽ được tận tay vin cành “hái lộc” còn người lớn ngoài uống trà ngắm hoa sẽ có thú vui đứng đọc lời chúc trong cánh thiếp. Sau tết cây đào lại được mang ra vườn trồng xuống đất để uống gió sương, vươn mình giữ thế đứng bạt phong kiêu hãnh của mình.

Trong công viên, bóng chiều đổ xuống rất nhanh; người ta không kịp chờ nắng tắt đã vội bật đèn màu… Tôi tiếc nuối nhìn màu hoa chìm dần vào tối. Tự nhiên nghĩ đến câu “Đào hoa lưu thủy…” mà nhà văn Minh Tự nhắc đến trong tạp bút Hoa đào trên đỉnh Bạch Mã.

Chuyện là, trên đỉnh Bạch Mã đến giờ vẫn còn lưu lại 2 cây mai anh đào Đà Lạt được thầy Tôn Thất Lôi – một vị huynh trưởng hướng đạo – trồng từ hơn 50 năm về trước. Một trong hai cây anh đào ấy chính là cây anh đào lưu giữ ký ức một thời tuổi trẻ và là kỷ vật kết nối cho một tình yêu mà ông nhà văn “dặn lòng sẽ có ngày trở về lại ngọn – núi – ảo – ảnh để tìm cho bằng được cây anh đào đã lặng lẽ khoe sắc hồng rực rỡ bao mùa xuân rồi giữa núi rừng hoang vu”

tao-dan-2017-13b

Thế rồi, mấy chục năm sau, nhân dịp theo bạn lên núi Bạch Mã, ông cố công tìm lại cây mai anh đào năm xưa. Cuối cùng, ông cũng tìm được một cây đào, có điều cây đào này không phải là cây mai anh đào năm đó. Nhìn màu hoa hồng tươi làm sáng lên cả một vùng lau lách đìu hiu, ông thảng thốt nhớ ra câu thơ tiên giáng “Đào hoa lưu thủy bận tâm làm gì…” được ghi dưới chân núi Bạch Mã, và lặng lẽ quay trở về. Đêm đó, ông cùng người bạn bày tiệc rượu dưới cội mai anh đào nằm bên hiên biệt thự Bạch Mã. Theo ông kể, đó là bữa tiệc rượu thần tiên, “thoảng một vài cánh hoa phớt hồng rơi xuống ly rượu, và sương mù thì cứ cuồn cuộn bay qua, đọng thành những hạt băng trên cành hoa khẳng khiu và rơi xuống ướt đẫm vai áo. Không khí như thể ngưng đọng lại cùng với mùi hương hoa đào ướp trong giá lạnh…”

tao-dan-2017-5b

Vẫn biết, cây đào lặng lẽ nở hoa trên đỉnh Bạch mã của nhà văn Minh Tự, cây đào Bạt Phong thung dung ở Đà Lạt hay cây đào thắm thiết giữa Tao Đàn rồi cũng chỉ là chuyện đào hoa lưu thủy, nước chảy mây trôi mà sao lòng vẫn không thể nguôi thương nhớ, kiếm tìm…

Xuân 2017

CF&S

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Vỹ thanh

Đôi bờ – bản tình ca muôn thuở

81909694988280

…Có những bản tình ca mang trong mình từng lời ca, từng nốt nhạc tuyệt vời, tuyệt vời cho khi bản nhạc đã kết thúc lâu rồi nhưng giai điệu ngọt ngào cùng những thông điệp về niềm tin trong sáng và mãnh liệt về tình yêu con người, tình yêu cuộc sống vẫn mãi như một dòng suối chảy vào lòng người dù qua bao năm tháng. Với tôi, bản tình ca ĐÔI BỜ là một trong những bản nhạc như thế…

Đôi bờ (Два берега) là một bài hát Nga, lời của Grigorii Mikhailovich Pozhenyan, phần nhạc do Andrey Yakovlevich Eshpai viết cho bộ phim “Жажда” (Khát nước) vào năm 1960. Bộ phim này kể về chiến công của một nhóm chiến sĩ Hồng quân dũng cảm đã chiến đấu để cung cấp nước ngọt trong vòng vài tiếng đồng hồ cho thành phố Odessa khi đó đang bị chiếm đóng. Mỗi người trong đội đều có số phận, tình yêu, trách nhiệm và những người thân khác nhau… trong đó có một chiến sĩ có người yêu là một cô gái rất trẻ. Và bài hát ĐÔI BỜ chính là tâm trạng đau thương của của cô gái khi biết người yêu đã hy sinh.

ĐÔI BỜ, với giai điệu nhẹ nhàng, sâu lắng như đang thầm thì kể về một mối tình vô vọng. Song, lạ một điều – chính bản thân người con gái trong bài hát hiểu được, ý thức được sự vô vọng nhưng trái tim cô thì lại không hề muốn tin, vẫn cứ muốn hy vọng và đợi chờ sự thần kỳ nào đó. Chính niềm tin đã khiến cô ngày ngày đứng bên bờ sông, dõi mắt nhìn theo bóng dáng từng đôi thiên nga bơi trên dòng sông, từng người bạn gái cùng lứa với mình đang hạnh phúc vì có người yêu mà âm thầm đau khổ khi nghĩ đến tình cảnh hiện tại của mình. Cô và người con trai cô yêu giờ đây như xa cách như hai bờ của một dòng sông…

ĐÔI BỜ – Lời Việt

Đêm dài qua, dưới mưa rơi, em mong chờ anh tới
Cây cỏ hoa như nói nên lời em hạnh phúc nhất đời
Lòng em riêng biết có yêu anh, giữa tình đôi lứa ta,
Một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa…

Trên dòng sông, sóng đôi nhau, thiên nga đùa trên sóng
Bên bờ sông vai sánh vai nhau, đôi đôi bước theo dòng
Mình em riêng đứng ngóng trông anh, với tình yêu thiết tha
Một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa…

Đêm dần qua ánh ban mai đang lan tràn dâng tới.
Trên bờ sông soi bóng em dài, xa xa phía chân trời.
Mình em riêng thắm thiết yêu anh, với niềm tin thiết tha.
Một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa…

Nhưng khi tìm hiểu sâu hơn về nguyên tác bài hát này tôi mới biết thêm nhiều điều về bản nhạc mà mình yêu thích. Thì ra tên gọi nguyên thủy của ĐÔI BỜ là “Мы с тобой два берега” (Em và anh, đôi bờ) nhưng cái tên ĐÔI BỜ của bài hát qua bản dịch ra tiếng Việt lại được những ai yêu thích Tình ca Nga biết đến nhiều hơn. Và ngay cả lời dịch quen thuộc ấy cũng có nhiều thay đổi về nội dung so với nguyên bản. Đặc biệt câu cuối cùng của bài hát “… Một dòng sông sóng nước mênh mông, đôi bờ đâu cách xa…” làm hàm ý của bài hát bị thay đổi rất nhiều vì câu kết của nguyên tác “Мы с тобой два берега у одной реки” nghĩa là “Em và anh (mãi) như hai bờ của một dòng sông“, ý sau cùng của bài hát là cô gái Nga ấy tuy đau khổ nhưng cuối cùng vẫn nhận ra và chấp nhận sự thật rằng mình đã mất người yêu mãi mãi, như đôi bờ sông chẳng mong ngày gặp lại. Nhưng qua bản dịch, ta lại thấy một hình ảnh khác, hình ảnh người con gái đau khổ, biết mình đã mất người yêu nhưng vẫn thủy chung chờ đợi và tin tưởng rằng dẫu lúc này tình yêu giữa cô và người lính Hồng quân có như đôi bờ thì khi “đêm dần qua, ánh ban mai lan tràn” trên trái đất này thì đôi bờ của riêng cô sẽ không còn xa cách nữa.

Có ý kiến cho rằng nên dịch hai câu cuối của bài hát ĐÔI BỜ là “Mặc dù sông sóng nước long lanh, đôi bờ, ôi, mãi xa” để trả lại đúng ý với nguyên tác. Bởi theo tác giả hình ảnh đôi bờ chính là hai cạnh song song của dòng sông cuộc đời. Luôn song hành nhưng không bao giờ gặp được nhau. Bởi vì bản chất sự vật là như thế, bản chất tình yêu là như thế. Nếu hai bờ sông gặp được nhau rồi thì còn đâu là con sông nữa? Và nếu như cô gái gặp được người mình yêu rồi thì đâu còn bài hát “Đôi bờ” làm lay động trái tim bao người nữa?

Nhưng với riêng tôi, không hiểu sao tôi vẫn thích được nghe mãi điệp khúc “… một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa…”. Có lẽ hình ảnh ấy gợi lên một niềm hy vọng, một khát khao nào đó để ta có thể tiếp tục sống – không chỉ sống mà còn sống đẹp – vì khi ta còn biết tin vào tương lai phía trước, ta sẽ còn biết yêu thương cuộc đời dù có nhiều nỗi mất mát, đắng cay…

– CF&S –

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Tạp bút

Giọt lặng

Viết riêng cho ngày 20 tháng 10 của em,..!

132acbeaa904a5e082d77b617f9bac74

(Hình minh họa: Internet)

Có một buổi sớm tinh mơ, trong trẻo và tĩnh lặng, góc quán cà phê nho nhỏ trên đường Hoàng Hoa em ngồi rất thảnh thơi. Có một ngày không anh xa xôi, em khẽ ngắm ly cà phê giọt giọt rơi. Cà phê không đường anh ạ. Một chiếc lá vàng trên cây mận đậu xuống bàn từ lâu lắm, chắc thấy nơi này bình yên quá nên cũng chẳng buồn ra đi … Nhạc Phú Quang dịu dàng mà da diết …

Thương lắm tóc dài ơi
Một đời long đong thân cò lặn lội
Mưa vẫn giăng đầy trên triền sông chiều đông giá rét
Em vẫn âm thầm đi về đâu để ta thương lắm
Yếm rách còn ngăn được gió,
Tình em dang dở, yếm nào che …?

Ở đây có bao nhiêu nỗi nhớ gửi tóc ngắn, tóc dài hở anh?

Hương cà phê nhẹ nhàng tan trên đầu lưỡi, vị đắng cùng vị ngọt quyện vào nhau rất chặt, nồng nàn và lạ lẫm. Vị cà phê ấy em uống đã bao lần mà vẫn thấy rưng rưng, vị cà phê không đường mà ngọt!

“Tại sao cà phê không đường lại ngọt?” – có lần em hỏi chủ quán, người chỉ cười nhẹ, mơ hồ bảo chất ngọt ấy tận dụng từ đường trong trái chín – cà phê…!

Ừ thì vị ngọt ẩn sau từng trái chín cà phê, em tin thế và mãi tin như thế.

Những ngày này em muốn hòa lòng vào thanh thản. Em muốn gặp lại ánh trăng trôi theo lục bình trôi, muốn thấy một chồi non cỏ biếc bên thân đời gỗ mục, muốn thấy nụ tươi xinh và thấy cả hoa tàn. Em muốn lắng tai nghe những thanh âm miên man từ cuộc sống…

Anh biết không, cơn mưa đêm qua làm sáng nay bầu trời xanh thăm thẳm. Sau vòm lá non còn ướt rượt có tiếng con chim gì đang lảnh lót rất mê say… Thêm một chiếc lá mận vàng xoay nhẹ rồi rụng xuống bàn tay em đang hứng đợi. Anh ạ, em không giật mình vì một chiếc lá rơi nhưng giật mình khi nhìn lá rơi mà nhớ… Như sáng nay em nhớ Yudishthira, anh cả trong dòng Pandava – sử thi Mahabharata – bảo rằng “Mỗi ngày, cái chết đến, vậy mà chúng ta sống như không bao giờ sẽ chết!”

Đấy là điều kỳ diệu lớn nhất của cuộc đời, phải thế không anh…?

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Tạp bút

Saigon chẳng có mùa thu

Saigon chẳng có mùa thu
Chỉ có những mùa lá rụng
Từng chiếc lá lao xao mặt đường
Cành me già thoảng chút hơi sương…
– Phạm Thành An –

34ec268f86dd27caade922f3627b7c71

Anh, có thật mùa này Sài Gòn đã bước vào thu không nhỉ?

Sáng nay em thấy bạn cuống quýt gõ vội trên facebook “Sài Gòn đang mùa có lá me bay. Sáng nay đi qua đường Nguyễn Du (đường Gia Long cũ) – con đường có lá me bay đẹp nhất Sài Gòn – mình đã bảo anh tài xế taxi đi chậm một chút. Hình như mình đang đi giữa mùa Thu ở một thành phố xa lạ…”

Em – cũng như bạn – những người trẻ muốn vượt lên chính bản thân mình, muốn vươn vai, muốn kiếm tìm, muốn thỏa mãn ước mơ, muốn đi xa hơn và học được nhiều hơn nên theo nhịp chảy hòa về thành phố, nhưng em đến Sài Gòn trước bạn đủ lâu để biết một điều chắc chắn Sài Gòn không có mùa thu. Sài Gòn quanh năm chỉ đến rồi đi với hai mùa mưa nắng. Sài Gòn chỉ có mùa lá rụng, mùa bão rớt, mùa gió heo may về cùng những xôn xao chứ chẳng thể nào có được mùa thu… Biết thế mà nghe bạn reo lên “Sài Gòn đang thu” em vẫn không thể giữ lòng mình thôi tự hỏi “Thật ư? Sài Gòn thật đã vào thu…?!”

Em hỏi, vì nghĩ dù có “đoảng vị” bao nhiêu, người ta cũng có thể dễ dàng nhận ra một mùa thu Hà Nội nồng nàn với hoa sữa, với hương cốm, với chanh non và tiết trời dịu mát; một mùa thu cao nguyên hào hoa khoáng đạt thích trộn lẫn sắc lá đỏ vàng của cánh rừng già hay một mùa thu man mác, ngập ngừng đánh rơi vài chiếc lá ngô đồng sót lại từ độ xuân sang bên bờ tả ngạn sông Hương. Nhưng ở miền Nam này đâu có dễ để ta reo lên “Ô kìa … Thu!” nếu lòng ta không muốn, tâm ta không an và tình ta không chịu hướng về. Đâu có dễ cứ đặt tay lên trái tim mình, nếu thấy nhịp tim chừng theo nhịp mùa vàng trút lá thì chắc là mùa đã sang thu.

Em hỏi, vì cho đến tận hôm qua em vẫn chưa thể nào cảm nhận được Sài Gòn bây giờ đang độ vào thu. Đi đâu cũng chỉ thấy một Sài Gòn đang ầm ào gió bão, một Sài Gòn đang ngập lênh loang, một Sài Gòn đang “thất thủ” trước sự cuồng nộ của mùa mưa tới. Làm sao Sài Gòn có thể đón thu cùng lá me vàng rợp đất như bạn hân hoan?

Còn nhớ giờ này đôi năm trước em mải mê bên bàn phím biết bao nhiêu. Em say sưa gõ lách tách từng con chữ để kể về một mùa thu tựu trường, một mùa thu tháng Chín xanh cả vòm cây, một mùa thu chỉ của riêng em, không rủ rỉ say đắm nhưng là thu mang đầy ước vọng. Vậy mà …! Một năm, hai năm, rồi dăm ba năm nữa trôi qua, rất nhanh, như thể em đang chơi trò chơi cầu trượt với chúng. Thêm một năm trôi đi, thêm một vài ước vọng đã hình thành và nhiều ước vọng vẫn còn dang dở. Duy chỉ có mùa tựu trường và những hàng cây là vẫn xanh nguyên như ngày đầu thu năm ngoái, năm kia, và nhiều, rất nhiều năm về trước, khi em đặt từng bước chân dè dặt chạm ngõ Sài Gòn.

Ngày ấy, lần đầu tiên đi dọc theo những đại lộ mênh mông, em không có được phút giây hồn nhiên nhìn ngắm lá me bay như bạn. Đơn giản vì em không biết mình đang đi qua những con đường đã nổi tiếng có trong câu hát “Trả lại em yêu khung trời đại học, con đường Duy Tân cây dài bóng mát” của nhạc sĩ Phạm Duy hay “Sài Gòn trên đường Nguyễn Du” mà ca sĩ Khánh Ly thường hát từ mấy mươi năm trước. Đôi bàn tay em lúc ấy không thể xòe ra đón lấy những chiếc lá li ti màu vàng đất đang rơi theo gió từng đợt xiên xiên rồi đậu xuống tóc xuống vai hay rơi tràn trên mặt đường vương trên cỏ rối bởi lòng còn trĩu nặng âu lo… Em không biết những con đường nhiều chiều hay một chiều giăng mắc cơ man cờ hoa và ánh đèn kia là đường Nguyễn Du, đường đồng Khởi hay đường Nguyễn Huệ. Em không kịp ngước nhìn những vòm cây xanh đổ bóng lá tít tự trên cao để biết ấy là me, là phượng, là xà cừ hay là hoàng điệp bởi em còn bận tâm nghĩ làm sao mình để có thể băng qua được con đường lúc nào cũng vùn vụt người xe như mắc cửi? Làm sao để có thể gọi một chiếc xích lô cho đôi chân mỏi mệt sưng phồng được nghỉ ngơi? Và hơn hết thảy là câu hỏi “Làm sao em có thể sống, có thể tồn tại một-cách-đàng-hoàng-và -lương – thiện mà không tay trắng thua cuộc quay về?”

Cho đến tận bây giờ em vẫn chưa thể nào hình dung nổi Sài Gòn vội vàng và náo động đó chính là một Sài Gòn luôn hằn sâu trong tâm tưởng mà em đã tự cho mình cái quyền được thương nhớ, hướng về kể từ những ngày xa xưa bé tí rong ruổi theo ba trên mọi nẻo đường. Một Sài Gòn có những hàng me xanh ngắt trên đầu và hoa điệp vàng rơi đầy dưới chân. Một Sài Gòn rộng mở vòng tay thương người cần lao gian khó.

Sài Gòn, với em, sao nhọc nhằn quá. Nên chi, mùa thu Sài Gòn, với em, cũng kém bao dung!

7524cbb8fe1e4287d7b15fc4aaebd659

Nhưng nếu chỉ nghĩ về Sài Gòn và những ngày thu đã qua chừng có thế thôi thì thời gian sẽ thành một lớp trầm tích phủ mờ dần ký ức về những ngày má đỏ bồ quân, đầu trần guốc mỏng đi bộ miệt mài dưới nắng vàng cay nghiệt.

Và, nếu chỉ nghĩ về Sài Gòn thế thôi thì em cũng đâu có rưng rưng mỗi khi đi ngang ngã ba ngã tư đèn xanh đèn đỏ, bất chợt nghe câu hò da diết bên đường vọng lại “đất Sài Gòn nam thanh nữ tú. Cột cờ Thủ Ngữ cao thiệt là cao. Em thương anh vàng võ má đào. Tìm anh khắp chốn vàng thau khó lường…”

Có lẽ, năm tháng sẽ giúp con người ta xóa bỏ đi nhiều thứ, giúp ta quên những điều cần quên nhưng lại luôn biết giữ lấy giúp ta những phần ký ức vẹn nguyên trong trẻo nhất. Thế nên, nhiều lúc nhớ về những ngày đầu tiên chạm ngõ Sài Gòn em vẫn thường thầm hỏi có bao giờ em hối hận, có bao giờ em nuối tiếc, có bao giờ em mong ước được quay lại để đi theo một con đường khác, về một hướng khác? Câu trả lời dứt khoát rằng không.

Vì, em đã chọn đến với Sài Gòn vào những ngày thu khó khăn nhất của cuộc đời.

Vì, em đã đứng được giữa Sài Gòn suốt bốn mùa trên đôi chân bé nhỏ của mình một cách bình yên.

Vì, em đã gặp được anh giữa chốn “vàng thau” như thể tình cờ làm nên định mệnh.

Thế nên, anh ạ, cho dù lúc này đây em vẫn không tin Sài Gòn đang độ vào thu, thì em vẫn ngóng trông có một sớm mai nào đó, anh sẽ về đưa em cùng sóng bước dưới hàng me đang mùa thay lá…

___________

Hình minh họa: Pinterest

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Vỹ thanh

Khúc vỹ thanh

rose

Vu vơ

Giữa đất rộng trời cao

Gió thổi trưa buồn

Mây trôi chiều nhớ

Vội vàng một nụ hôn trao

Nghiêng vai đổ bóng cồn cào

Em,

Đêm dài đêm

Thao thức

Tiếng dế mèn háo hức

Con mèo hoang hừng hực lửa yêu đương

Thoang thoảng hương

Một nụ hồng vừa hé

Rung rinh

Anh,

Em có thể nào mãi lặng thinh

Sao anh đành không nói

Để một đời Thăm thẳm Vô ngôn …!

__________

Buổi tối ngồi soạn mớ tài liệu cũ, tìm được bài thơ họa thơ với anh Ngô Văn Cư viết từ 5 năm trước bỏ quên trong tập giấy tờ. Cũng tính họa vui vui, rồi thôi, nhưng lại tiếc nên lưu lại…

Posted in GHI CHÉP TẢN MẠN, Vỹ thanh

Còn yêu em mãi

Người ta nói nghe nhạc Nguyễn Trung Cang là nghe tiếng thầm thì hạnh phúc trong tận cùng của tuyệt vọng. Nếu vậy, Còn yêu em mãi sẽ là tiếng thì thầm hạnh phúc cuối cùng, khi mọi tuyệt vọng đã đến cực hạn của nó. Tôi ước mong sao, “giấc mơ tương phùng” của ông, dù phía bên này, hay bên kia nhân thế, cũng đã toại nguyện. Bởi “Ngọt hay đắng, trong cuộc đời mưa nắng, ta luôn cười trong giấc mơ hạnh phúc xưa tuyệt vời…”