Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Nguyên Tiêu ăn bánh cốm ngò

banh-com-ngo-17cf

Bánh cốm ngò là món bánh trái đặc biệt của cộng đồng người Hoa ở khu vực miền Đông Nam Bộ, trong đó có Bình Dương. Hàng năm, cứ vào dịp Nguyên Tiêu (rằm tháng Giêng) người Hoa ở quanh khu vực Bình Dương thường đổ về thành phố Thủ Dầu Một để tổ chức lễ rước kiệu Bà Thiên Hậu, biểu diễn lân sư rồng, đi cà kheo, dâng đèn hoa, hóa trang diễu hành và làm bánh cốm ngò bán ngay trên đường phố.

Nghe nói, bánh cốm ngò là một nét văn hóa lâu đời đi cùng “không gian tiệm nước” đặc thù của người Hoa chợ lớn. “Tiệm nước”, hiểu nôm na là một quán ăn nhỏ bình dân, buổi sáng thường bán điểm tâm, có mì, hủ tiếu, bánh bao. Buổi chiều bán cà phê, trà và bánh ngọt. Tất nhiên, món bánh ngọt trứ danh đó chính là miếng bánh cốm ngò giòn tan, ngọt lịm, thơm mùi bột và mật mía. Tiệm nước không chỉ là cái… tiệm bán đồ ăn mà còn là một trung tâm văn hóa thu nhỏ, nơi người ta ghé qua để hỏi thăm thông tin bà con xa bạn bè gần hoặc tìm nhau uống miếng trà, ăn miếng bánh ngồi nói chuyện dân tình thế thái. Theo dòng di dân, “bánh cốm ngò” từ Sài Gòn chợ lớn lan tới các vùng sông nước miền Đông Nam Bộ, có mặt trong các buổi lễ lạc, cưới xin, giỗ chạp, cúng quẩy và dần trở thành một món ăn đặc biệt không thể thiếu trong ngày Tết Nguyên Tiêu.

Tôi có hỏi ông chủ một gánh bánh cốm ngò vì sao bánh cốm lại ngọt như vậy, ông cho biết người Hoa coi bánh cốm là một trong năm món lễ lạc tạo thành mâm “Ngũ Phúc” đầu năm, gồm có bánh pía, kẹo đậu phộng, mè láo, kẹo dẻo và bánh cốm ngò. Cả 5 món đều dùng ngũ cốc, mạch nha, trứng gà, đường mía làm nguyên liệu chính, với ý mong năm mới được vui vầy sum họp, no ấm, thắm thiết, an lành.

Để có thể làm bánh cốm nhanh, gọn ngay trên hè phố, các công đoạn chuẩn bị như nhồi bột, cán sợi, chiên qua đã được làm trước ở nhà. Tới lễ hội, người ta chỉ còn biểu diễn tại chỗ những công đoạn cuối cùng. Bánh cốm có giòn lâu, thơm ngon hay không phụ thuộc rất nhiều vào cách nhồi bột, chiên bánh, ngào đường, thêm hương liệu. Để phù hợp thị hiếu, bánh cốm ngò đã bớt đường, bớt mật. Ngoài bánh truyền thống còn có bánh chay hoặc biến tấu chút đỉnh, thêm sầu riêng, sữa tươi, cốt dừa để làm tăng độ béo, thêm lá dứa, vani, cà phê, nho khô, dâu tây để tăng hương vị.

Tôi không hỏi kỹ nguyên liệu làm bánh cốm vì hiểu đó là bí quyết làm ăn của người ta nên chỉ hỏi chuyện mấy câu rồi xin đứng lại xem làm bánh, chụp hình.

banh-com-ngo-2cf

Dầu được đun rất nóng, sau đó thả cọng bột mì  đã sơ chế vào

banh-com-ngo-4cf

Cọng mì đã nở đủ độ, vàng giòn thì dùng vợt vớt ra

banh-com-ngo-5cf

Cọng mì đã chiên giòn được trữ rất nhiều, chờ làm cốm

banh-com-ngo-6cf

Đường, mạch nha, mật ong và nước được nấu lên, gọi là thắng nước đường

banh-com-ngo-8cf

Trong khi chờ nước đường “tới” thì  chuẩn bị khuôn

banh-com-ngo-9cf

Đường đã tới, sánh, chạy vân và tỏa mùi đường thắng rất thơm

banh-com-ngo-10cf

Cho cốm đã chiên giòn vào nước đường, xào thật nhanh tay trên chảo cho cốm ngấm đường hoàn toàn

banh-com-ngo-11cf

Đổ cốm đã ngào ra khuôn, dùng chày ém chặt để cốm dính vào nhau

banh-com-ngo-12cf

Dùng thanh gỗ dẹp cà thật đều để cốm phẳng, sát vào thành khuôn

banh-com-ngo-13cf

Rải đều ngò rí đã cắt nhuyễn lên mặt cốm

banh-com-ngo-14cf

Dùng thước chia cốm thành những phần đều nhau

banh-com-ngo-16cf

Tách cốm thành miếng, cho vào túi

Nghe tiếng chào mời, tiếng bán mua, tiếng chúc nhau năm mới an khang, tốt lành bằng cả tiếng Hoa, tiếng Việt. Nhìn giọt mồ hôi lấp loáng trên ngực, trên trán những thanh niên đang cần mẫn sên đường đóng bánh. Ngắm nụ cười thoải mái rạng rỡ của người bán người mua… Tôi chợt vân vi.

Thật ra, ở đâu thì người dân cũng mong được an ổn để mưu sinh, lập nghiệp và mưu cầu no ấm, hạnh phúc, thuận hòa. Và, dù có thế nào đi nữa, ta cũng chỉ bài xích một chế độ, một chính sách, một mối quan hệ chứ không ai bài xích một dân tộc hay một nền văn hóa có nhiều nét đẹp cổ truyền.

Biết thế, nhưng vẫn không thể gạt hết những vướng víu, cách ngăn trong lòng…!

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Lễ hội rước kiệu Bà, Bình Dương

le-ruoc-ba-thien-hau-b

Lễ hội rước kiệu Bà Thiên Hậu vừa diễn ra xong hôm qua. Giờ ngồi trong nhà nhưng tôi vẫn còn nghe dư âm của Lễ Hội từ những tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chỏe đập phèng phèng ngoài đường vọng vào. Đây là năm đầu tiên tôi chính thức đi xem rước kiệu và bước vào bên trong Miếu Bà dù đã ở đây gần chục năm trời và Miếu Bà nằm ngay trên đường tôi đi làm hàng ngày.

Miếu Bà, gọi đầy đủ là Miếu Bà Thiên Hậu, tên chữ là Thiên Hậu Cung, do cộng động người Hoa sinh sống tại Bình Dương lập nên để thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu. Theo văn tự ghi lại trong miếu, bà sinh vào thời Tống Kiến Long, là con thứ 6 của gia đình họ Lâm ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Tương truyền, khi mới lọt lòng bà đã toả ánh hào quang và hương thơm. Lớn lên Bà thường cưỡi thảm bay lượn trên biển, du ngoạn nhiều nơi, nghĩa hiệp, từ bi, hay cứu người độ thế. Đến đời Tống Ung Hy, Bà từ giã cõi trần và hiển linh. Đời Nguyên, Bà được phong là Thiên Phi, đến đời Thanh, vua Khang Hy gia phong làm Thiên Hậu và danh hiệu Thiên Hậu tồn tại cho đến nay.

Trong những năm Trung Quốc tao loạn, một số người Hoa vượt biển xuôi về phương Nam Việt Nam tìm đất sống. Cùng với chuyến hải trình đó, họ rước theo Bà Thiên Hậu để cầu mong Bà phù hộ độ trì cho họ vượt qua tai ương sóng gió. Sau khi đã an cư lạc nghiệp, họ cùng nhau lập miếu thờ cúng Bà để tỏ lòng tôn kính biết ơn.

Dư địa chí Bình Dương có ghi lại rằng “Không biết miếu bà Thiên Hậu được xây cất năm nào, chỉ biết lúc đầu ngôi miếu tọa lạc bên rạch Hương Chủ Hiếu. Đến năm 1923, sau khi ngôi miếu ấy bị hỏa hoạn thì bốn Bang người Hoa lớn nhất Bình Dương là Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ cùng chung sức tái tạo ngôi miếu mới tọa lạc ở số 4 Nguyễn Du, Tp Thủ Dầu Một ngày nay.”

le-ruoc-ba-thien-hau-5b

Hàng năm, lễ hội rước kiệu Bà được tổ chức rất trọng thể và mang đậm bản sắc cổ truyền của người Hoa, diễn ra trong 3 ngày 13-14-15 tháng Giêng. Phần Lễ được tổ chức riêng, từ đêm 14 và kết thúc với phần Hội vào chiều 15 bằng việc rước cộ (kiệu) Bà từ Miếu Bà tuần du qua một số trục đường chính quanh chợ Thủ Dầu Một và những khu vực có đông người Hoa sinh sống, sau đó trở về lại Miếu. Đi đầu đoàn rước là cờ phướn và tấm liễn ghi 4 chữ “Thiên Hậu xuất cung”, kế tiếp là kiệu Bà Thiên Hậu, sau đó là các đội lân sư rồng, xe hoa, và nhiều nhân vật hóa trang từ các tuồng tích của người Hoa…

Lễ hội rước Bà Thiên Hậu trở thành một trong những lễ hội đầu năm lớn nhất Bình Dương và thu hút rất đông dân địa phương và khách du lịch. Về ý nghĩa và giá trị văn hóa riêng của lễ hội này đối với vùng đất Đông Nam Bộ nói chung và Bình Dương nói riêng, nếu quan tâm, chúng ta có thể tra khảo để biết thêm rất nhiều chi tiết cụ thể trên các trang web. Ở đây, tôi chỉ thắc mắt chuyện tên gọi của lễ hội. Người dân Bình Dương thường nôm na gọi Lễ hội rước Vía bà Thiên Hậu là lễ hội Chùa Bà và miếu Bà Thiên Hậu được gọi là Chùa Bà. Có lẽ, vì người dân nhầm lẫn giữa Chùa, Đền và Miếu.

le-ruoc-ba-thien-hau-31b

Theo tôi tìm hiểu, Chùa là nơi truyền bá Phật giáo và thờ Phật. Đền là nơi thờ các vị Thánh hiển linh (như đền Quán Thánh, đền Bạch Mã) hoặc các nhân vật lịch sử có công với dân với nước và được tôn thánh (như đền Hùng, thờ các vua Hùng; đền Trần, thờ đức thánh Trần – tức là Quốc công Trần Hưng Đạo) còn miếu là nơi thờ Thần (các vị thần theo dân gian như Sơn Thần, Thổ Địa, Hà Bá) hoặc các nhân vật đặc biệt nào đó, song mất vào “giờ linh” nên thành thần (vì vậy mới có Miếu Cô, Miếu Cậu,…). Người dân miền Nam còn gọi Miếu là Miễn (Miễu Bà Chúa Xứ).

Giữa Đền và Miếu có thể có một chút nhầm lẫn do cách thức rước lễ, cúng bái, thờ phụng hơi giống nhau nhưng không thể nhầm Chùa với Đền/Miếu.

Ở trước cổng Miếu Bà, có 3 chữ Thiên Hậu Cung rất lớn, bên trong người ta ghi rõ ràng là Miếu Bà. Còn Miếu Bà vừa được xây dựng ở Thành Phố mới, người ta đắp nổi 4 chữ “Miếu Bà Thiên Hậu” ngay cổng ra vào. Cứ cho là người dân từ nhầm lẫn ban đầu đã gọi Miếu Bà là Chùa Bà, và thành nếp gọi, không thay đổi được nữa. Nhưng tôi thấy lạ là báo chí truyền thông cũng vô tư theo dân gọi sai, từ báo chính thống có uy tín tới báo lá cải. Thậm chí, ngay cả trang Du Lịch Bình Dương cũng thoải mái giới thiệu Lễ Hội Chùa Bà, và gọi ngay Miếu Bà Thiên Hậu trên thành phố mới là Chùa Bà Thiên Hậu. Trang duy nhất gọi đúng chính là trang Wikipedia.

Thật kỳ lạ…!

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TẠI LỄ HỘI VÍA BÀ

4 giờ chiều, người dân và khách du lịch đổ về khu vực Miếu Bà để xem rước Kiệu.

le-ruoc-ba-thien-hau-1b

le-ruoc-ba-thien-hau-2b

Các đội Lân Sư Rồng chuẩn bị biểu diễn

le-ruoc-ba-thien-hau-3b

le-ruoc-ba-thien-hau-6b

Nhang đèn, vàng mã bán cạnh Miếu Bà.

le-ruoc-ba-thien-hau-4b

Nhang Đại – một trong 3 món lễ không thể thiếu khi vào hành lễ trong Miếu Bà.

le-ruoc-ba-thien-hau-7b

Ngoài trầu cau, vàng mã thì hoa sen, hoa huệ và cây thần tài (có người gọi là cây trường sinh) là 3 loại hoa được chuộng nhất trong mùa lễ hội này.

le-ruoc-ba-thien-hau-8b

le-ruoc-ba-thien-hau-9b

Chen nhau vào Miếu thắp hương, khấn lễ. Khách viếng có thể mua bao nhiêu hương tùy thích, đốt bao nhiêu hương bên ngoài cũng được, nhưng chỉ được phép cầm 1 cây vào bên trong Miếu, do không gian miếu quá hẹp, còn lượng khách và đèn nhang quá lớn.

le-ruoc-ba-thien-hau-11b

le-ruoc-ba-thien-hau-18b

Nơi đốt hương trong sân Miếu.

le-ruoc-ba-thien-hau-10b

Bàn thiên, nơi đặt lễ vật, nhang đèn, vàng mã…

le-ruoc-ba-thien-hau-12b

Thả chim phóng sanh, một tập tục không thể thiếu của người Hoa khi đi lễ Bà Thiên Hậu.

le-ruoc-ba-thien-hau-13b

le-ruoc-ba-thien-hau-14b

Chờ xem cộ (kiệu) trở về Miếu

le-ruoc-ba-thien-hau-23b

Múa Hẩu của người Hoa thuộc bang Phúc Kiến – Hẩu là con Kim Mao sư (sư tử lông vàng) là con thú chúa của loài thú. Múa Hẩu không có ông địa đi theo như múa Lân, Hẩu cũng không leo trèo vờn cầu giỡn đèn như Lân. Hẩu dẫn đầu đoàn rước với ngụ ý muốn xua đuổi hoặc răn đe những cái xấu, cái ác. (trích Wikipedia)

le-ruoc-ba-thien-hau-19b

Múa Hẩu, kèm theo phun lửa, theo sau là cờ phướn và Kiệu Bà.

le-ruoc-ba-thien-hau-20b

Xe hoa, có Đế Thiên, Đế Thích…

le-ruoc-ba-thien-hau-21b

Múa Rồng

le-ruoc-ba-thien-hau-22b

Múa Phụng – trên lưng Phụng có các ngọc nữ (do các em nhỏ người Hoa hóa trang)

le-ruoc-ba-thien-hau-24b

Đoàn Lân múa cuối buổi Lễ.

le-ruoc-ba-thien-hau-25b

Kết thúc lễ hội rước Kiệu Bà vào 6h chiều, 15 tháng Giêng.

le-ruoc-ba-thien-hau-26b

le-ruoc-ba-thien-hau-29b

le-ruoc-ba-thien-hau-30b

le-ruoc-ba-thien-hau-27b

Ghi chú:

Tôi dùng máy ảnh thông thường, ống kính 50 nên không thể chụp gốc rộng để lấy được toàn cảnh sự náo nhiệt, hoành tráng và rực rỡ của Lễ hội này. Dưới đây là một số link bài báo ảnh đăng về Lễ hội “chùa” Bà, ảnh đẹp, chất lượng tốt, vị trí chụp từ trên cao nên bao quát toàn cảnh.

Hàng chục nghìn người trẩy hội chùa Bà Bình Dương, báo Vnexpess.

Lễ hội rước kiệu Bà đầy màu sắc ở Bình Dương, báo Zing

Chùm ảnh biển người đổ về Bình Dương tham dự lễ rước chùa bà Thiên Hậu, Kênh 14.vn

   (chài ai, người ta rước kiệu Bà chứ ai rước “chùa” Bà mần chi…!!! 😀 )

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Ta đến với rừng (P2)

Ta đến với rừng (P1)

Mưa rừng và thú ăn đêm

5h chiều, đất trời tối om. Lác đác những phòng nghỉ có người đã lên đèn. Bên ngoài cơn mưa rừng vẫn đang trút xuống như thác đổ. Nước dâng lên rất nhanh, lênh láng, tràn trề trên mặt đất rồi nhanh chóng lấp đầy tất cả những khu đất trũng. May mắn làm sao khi chúng tôi băng rừng về kịp trước đợt mưa đầu tiên có vài ba bước chân!

RỪNG NCT-P2-1

(Mưa chiều)

Đang say mê ngắm nhìn đất trời vật vã trong cơn mưa giông cuồng nộ, tôi giật thót khi bất chợt nhìn xuống bậc thềm, thấy cách rãnh nước nhỏ hơn gang tay có một đôi bò cạp màu nâu đỏ bơi nhoay nhoáy, hai cái  đuôi vĩ đại phía sau cong lên dữ tợn, còn cặp càng phía trước thì huơ lên sẵn sàng tấn công vào bất kỳ sự vô tình nào đụng phải. Có lẽ vì mưa to quá nên đôi bò cạp phải ra khỏi hang tìm nơi ẩn trú mới. Chúng bò rất nhanh, chạy re re dọc theo rãnh nước chừng như muốn băng qua để chui vài dãy phòng trọ khô ráo ấm áp. Thế rồi thoắt một cái, đôi bò cạp bỏ rảnh nước quay ngoắt chạy về phía lối đi rải sỏi dẫn ra đình hóng mát nằm giữa vườn hoa. Nghĩ tới cảnh báo về bò cạp núi đọc được trước khi đi, tôi chẳng còn thần trí nào mà chụp hình, chỉ nghĩ đến cả đám đông lố nhố hơn chục người có cả trẻ nít đang trú ngoài đình chờ mưa tạnh nếu không may đạp vào bò cạp tôi đủ hoảng. Túm vội cái đèn pin con trai đưa cho, tôi vừa lia đèn pin về phía đôi bò cạp, vừa hoa tay múa chân hét lên “Coi chừng, coi chừng đôi bò cạp…” nhưng mưa to quá, không ai nghe được tôi nói gì. Chỉ đến khi thấy điệu bộ của tôi có vẻ hốt hoảng họ mới chú ý nhìn theo hướng đèn pin. Thế rồi cả đám người rú lên, túa ra thềm, chỉ trỏ, dậm châm, đập chai nước vào bàn ầm ầm để đuổi đôi bọ cạp chạy ngược ra vườn. Cùng với sấm chớp loằng ngoằng, có tiếng chụp hình tánh tách và ánh đèn flash lóe lên và từ mấy vị khách nước ngoài. Không biết họ có chụp được gì không nhưng nhìn ống máy tele khủng của họ tôi thèm quá. Khi nguy hiểm đi qua thì đam mê ảnh ọt lại bắt đầu trỗi dậy. Tôi cố gắng mang cái máy bé tí của mình ra chỉnh chế độ chụp đêm rồi bấm vài tấm nhưng chả ăn thua.

7h tối. Trời vẫn mưa rả rích, chung quanh tối đen, vòm cây sâu hun hút. Có điều nước bắt đầu rút, người người trú mưa đâu đó cũng lục tục rủ nhau đứng dậy ra về. Nhìn thấy bên ngoài í ới lao xao, con trai tôi càng sốt ruột, hết đi tới đi lui lại mở cửa căng mắt nhìn ra ngoài rồi quay lưng nằm thở dài thườn thượt. Thằng bé vốn mong chờ chuyến đi xem thú ăn đêm, đến mức cả tuần trước đó cứ hết lấy đèn pin ra tập soi lại lên mạng tìm thông tin cho biết! Chính vì có “giao kèo” trong bất kỳ trường hợp không thuận lợi nào cũng phải chấp nhận, không được than van nên thằng bé nằm im, chả dám khóc to chứ tôi dám chắc cậu nhóc đang len lén lấy tay quệt nước mắt trên giường.

7h30 tối, tôi quyết định gọi điện thoại lên trung tâm du lịch để đề nghị họ giữ tour, chỉ cần họ tổ chức thì dù chỉ đi có 2 người hay phải trả phí gấp năm ba lần tôi và thằng bé cũng dứt khoát mặc áo mưa, tham gia bằng được.

8h20, điện thoại reo vang, thông báo trong vòng 15 phút có mặt ở trung tâm, chuyến xe đi xem thú đêm duy nhất sẽ khởi hành vào 8h30. Thằng bé hét vang, bật dậy, xốc balo lên vai rồi kéo tôi chạy nhanh hơn cả sóc! 5 phút sau, hai mẹ con vừa thở vừa đưa tay vuốt nước mưa trên mặt, ngồi đung đưa chân, cười khoái chí trên chiếc xe Zin cải tiến được đóng thêm thành bảo vệ cao ngất. Ngoài 2 mẹ con tôi, trên xe còn gần chục khách du lịch, chủ yếu là khách nước ngoài và một tốp sinh viên trường cao đẳng Bình Phước. Tôi có ý nhìn quanh nhưng không thấy Lĩnh. Có lẽ, cậu ấy đổi ca để nghỉ ngơi, chuẩn bị cho chuyến đi Bàu Sấu sáng mai. Hai anh bảo vệ mặc đồ “đặc chủng” rằn ri đứng trước thùng xe, một người cầm dây dợ, đèn pha, 1 người cầm thùng ắc quy và con dao rựa cán dài, lấp lóa nước mưa trông bí hiểm và hấp dẫn như người dẫn đường trong seri phim phiêu lưu mạo hiểm Indiana Jones vậy. Cậu hướng dẫn viên đứng chốt đoàn, vừa luôn miệng đọc tên kiểm tra sĩ số người tham gia, vừa pha trò chọc ghẹo chú nhóc 10 tuổi duy nhất trên xe làm chàng ta vừa căng thẳng vừa phấn khích, cứ chốc chốc lại lấy cây đèn pin bé xíu ra lia một vòng rồi toét miệng, thì thào “Để con soi đèn cho mẹ… chụp hình!”

Chạy hết phần đường tráng nhựa trong khuôn viên khu du lịch, xe rẽ trái, chở chúng tôi tiến sâu vào đường mòn nhỏ hẹp trong rừng. Sau cơn mưa dữ dội lúc chiều, cây rừng đổ rạp hai bên đường, nhiều thân cây lớn nằm chắn ngang tầm mắt hoặc gãy gập đong đưa ngay trên đầu xe nên tốc độ xe đi rất chậm. Anh bảo vệ cầm dao rựa phải liên tục vung dao chặt bớt những cành cây sà xuống ngang tầm mặt chúng tôi. Tiếng chặt cây cốp cốp, tiếng nước mưa rơi sàn sạt cùng tiếng máy xe rì rì làm mọi người trên xe hơi căng thẳng. Một cậu sinh viên không nén được, thì thào hỏi anh hướng dẫn “liệu rừng này còn… cọp không anh?” làm cả đoàn ai cũng phải bật cười nhưng không cưỡng được cái ngoái đầu len lén ra sau. Trước rừng sâu âm u con người bỗng trở nên yếu ớt, mong manh quá sức, dù cho sự hiểu biết hay kiến thức luôn được người ta lên mạng tra cứu cập nhật mỗi ngày.

DSC_0193

(Bầy nai ăn đêm)

Ra khỏi khu rừng tre nứa, tới phần đồng cỏ tranh xe chạy nhanh hơn. Tầm nhìn cũng rộng hơn. Cả đoàn dán mắt vào ánh đèn pha rọi dài trên bãi trống. Kia rồi, một đàn nai đang lô nhô sau bụi cây thấp. Mọi người ào qua thành xe bên trái, đua nhau chỉ trỏ, chụp hình. Tôi thử lấy máy ra chụp nhưng nhận ra với bóng tối đặc sệt như thế này, dù bật flash hay chỉnh ISO đến kịch cỡ thì cái máy ảnh của tôi cũng chỉ đủ sức chớp lấy những bóng thú rừng nhòe nhoẹt. Thế nên tôi quyết định cất máy vào balo, bỏ qua chuyện hình ảnh để tha hồ vui vẻ thảo luận cùng con trai hay hỏi han hướng dẫn viên viên về tập tính của thú ăn đêm. Nghe đám sinh viên trên xe cãi nhau không biết mắt nai bắt đèn màu gì, con trai bảo nhỏ rằng nó đọc trong cuốn Thú rừng Tây Nguyên, thấy viết khi hổ và trâu rừng bắt đèn mắt sẽ đỏ quạch như hòn than còn lợn rừng và hươu nai bắt đèn mắt xanh lét như màu đèn đom đóm. Tôi không rõ những gì thằng bé đọc có chính xác không, nhưng thấy tự hào về nó thật nhiều. Trên đoạn đường quay về, chúng tôi còn thấy hai con nhím, mấy con sóc, một gia đình nhà chuột chũi và vài đàn nai khác đang lọ dọ kiếm ăn.

Gần 9h30 xe về đến trung tâm. Cả tour xem thú chỉ vẻn vẹn kéo dài tầm 45 phút. Ai cũng có cảm giác tiếc nuối dù mấy con nai, con sóc đó rất dễ dàng nhìn thấy nếu mua cái vé vài chục ngàn vào Đại Nam hay Thảo Cầm Viên. Tắm rửa, thay đồ xong, hai mẹ con nằm dài trên giường. Thằng bé vẫn còn say mê nói về cheo, về khỉ, về suối Y-a-mơ, bầy lợn rừng và con trăn bắt cá… Giục mãi, thằng bé mới chịu nằm im sau khi cố cãi “Con không buồn ngủ” rồi 5 phút sau lăn ra ngáy khò khò…! Giờ thì chỉ còn mình tôi thao thức. Không có tiếng xe máy hú lên trong đêm. Không có tiếng hàng xóm cãi nhau. Không có tiếng tivi, tiếng karaoke, hay tiếng ho hen vào ra loẹt quẹt, đêm trong rừng đông đặc thành tấm màn nhung che kín cuộc sống ngày thường.

Gần 4 giờ sáng, tôi thiếp đi và mơ thấy Hải. Lâu lắm rồi tôi mới lại mơ về anh và cảm nhận vòng tay, hơi thở của anh rõ ràng đến thế. Anh vẫn vậy, lầm lì và nồng nhiệt, ngọt ngào và ghen tuông… Giữa một vòng tròn đầy bạn bè, anh thản nhiên đặt tay lên hông tôi như một kiểu tuyên bố chủ quyền và sở hữu không cần văn bản. Khi tôi ngước lên nhìn anh, tính nói điều gì đó thì tiếng con chim ăn đêm vỗ cánh phành phạch bay vụt qua kêu “choác… choác… choác…” xé tan cả giấc mơ. Tôi nhìn đồng hồ, mới hơn 5 giờ. Không ngủ được nữa, tôi ngồi dậy thay đồ rồi bước ra sân. Bên ngoài trời tờ mờ sáng nhưng đã có người chạy thể dục. Hít một hơi thật dài, tôi rảo bước. Mùi đất rừng và lá mục ẩm ướt xộc vào mũi hăng hăng nhưng tươi mới lạ lùng…Bươ

RỪNG NCT 23

(Hoa trồng ven lối đi)

RỪNG NCT 22

(Hoa trồng ven lối đi)

Khi tôi quay về phòng, cả khu nghỉ dưỡng đã thức dậy gọi nhau ồn ã. Phòng bên cạnh mở toang cửa, bên trong cặp vợ chồng trẻ đang đuổi đánh một con… vắt. Cô vợ leo tót lên giường trùm mền la oai oái còn anh chồng thì cầm cái que tả xung hữu đột. Thấy tôi cười, cô bé kể ngay chuyện con vắt chui vào toilet làm vợ chồng cô đêm qua chả ai dám… tắm! Chưa kịp ghẹo cô thì ở dãy phòng đối diện, mấy thanh niên lại đua nhau kể tội đêm qua cả chục con cuốn chiếu to như con rết chui vào phòng, có con còn bò lọt cả vào chăn!

Tôi cười ngất. Gì chứ chuyện cuốn chiếu tôi biết. Ngày mới ra trường về dạy học ở vùng sâu, tôi vẫn thường chịu trận, sống chung với những con cuốn chiếu tròn vo như cây đũa, dài bằng gang tay, chân tua tủa hay cuộn tròn một đống, rơi bịch trong chăn ra mỗi khi đổi trời vào mùa mưa xuống… Giống cuốn chiếu vốn vô hại với con người, nhưng nhìn hay vô ý chạm vào cứ thấy ghê ghê.

15km vào ra Bàu Sấu

Ăn sáng xong, 7h chúng tôi đã nai nịt gọn gàng, chuẩn bị lội rừng vào Bàu Sấu. Sáng nay Lĩnh dẫn đường. Vốn có cảm tình với Lĩnh từ chuyến đi vào thác Bến Cự hôm qua nên tôi thấy yên tâm hơn khi có Lĩnh đi cùng. Vì đã đặt tour nên chúng tôi có xe (pick-up) đưa đến tận ngã ba Bàu Sấu, rút gọn được 10 km đường mở rộng sau đó mới xuống xe lội thêm 5 km xuyên rừng.

RỪNG NCT 27

(Xe pick-up đưa đoàn vào Bàu Sấu)

Nam Cat Tien 30a1

(Hết đoạn đường mở rộng, bắt đầu đi bộ)

RỪNG NCT 24

(2km đường rừng lát đá tảng và nụ hoa rừng dày đặc)

2km đầu tiên, đường rừng đã được lát đá tảng, hơi gập ghềnh nhưng rất dễ đi. Buổi sáng trong rừng tuyệt nhất là nghe chim hót. Chúng tôi không biết chim gì, nhưng tiếng hót của chúng thì hay tuyệt, réo rắt suốt cả đoạn đường dài. Và bướm, một trời bươm bướm.

RỪNG NCT 6

(Bướm rừng)

Lĩnh nói buổi sáng bướm hay tập trung sà xuống các vũng nước để uống nước và hút muối khoáng còn buổi chiều bướm ra vũng nước để giao phối và đẻ trứng. Trước khi đi Nam Cát Tiên, tôi từng mê mẫn ngắm một bức ảnh chụp bước chân đi quấn quýt bướm rừng nên thầm nhủ kiểu gì cũng chụp cho con trai một cái hình giống vậy. Song, khi đưa máy ảnh lên tôi mới biết mình “ngây thơ” như thế nào. Bướm bay rợp trời nhưng lại không đậu một chỗ nào đủ lâu để lấy nét. Chỉ cần tới gần hoặc cảm nhận có sự chuyển động là chúng đồng loạt vỗ cánh bay vụt ra xa nên tôi không tài nào chụp được. Thấy sự tiếc nuối của tôi, Lĩnh cười, nói muốn bướm đứng im cho chụp thì phải có mẹo dụ bướm chị ạ. Các bác nghệ sĩ nhiếp ảnh vào đây săn bướm hay bảo nhau thủ một ít… mắm tôm. Chỉ cần nhỏ vài giọt mắm tôm vào vũng nước có cái view mình thích, hoặc bôi chút mắm tôm lên thân cây gỗ mục thì bướm sẽ tụ lại. Còn muốn bướm bay theo chân thì cứ ống quần mà bôi mắm vào, lúc ấy tha hồ chụp. Nghe xong, tôi cứ cười và trách đùa Lĩnh không chịu nói sớm. Tưởng phải có chân máy hay ống kính cao cấp thì tôi đành chịu, chứ mắm tôm thì tôi thiếu gì…!

Càng đi sâu vào rừng, chúng tôi càng thích. Buổi sáng trong rừng mát hơn buổi lội chiều qua rất nhiều, lại thêm cơn mưa nên bao nhiêu bụi bặm gần như được rửa trôi hoàn toàn, trả lại cho rừng một vẻ mặt nguyên sơ và bầu trời cao trong trẻo. Tôi có ý tìm xem lan rừng ở đâu nhưng tuyệt nhiên không thấy. Mà ngẫm ra, một ngày không biết bao nhiêu đoàn khách ra vào nơi đây, dẫu cho lan rừng có muốn sống yên ổn trên cây cao hay sà xuống thân thiện với người cũng khó, nhất là khi con người vốn đã ít ý thức bảo vệ lại còn thừa tham lam, chỉ ưng chiếm giữ những thứ không thuộc về mình…

RỪNG NCT 3

(Hoa dại trong rừng)

RỪNG NCT 4

(Một loài hoa rất lạ, thân từ dưới đất mọc lên 5 cm là ra hoa luôn)

Hết 2 km đường lát đá, chúng tôi mới thực sự cảm nhận được bước chân đi dưới tán lá rừng dịu êm thế nào. Lá rất mềm, đất rất dịu, rêu rất xanh và trời cao vòi vọi trên đầu. Cả đoàn vừa đi vừa ngắm cảnh, vui đùa, thỉnh thoảng lại vẫy tay chào hoặc nghe lời động viên “cố lên, sắp đến đích rồi” thật thân thiện các đoàn khác từ Bàu Sáu đang ngược trở ra.

RỪNG NCT 9

(Cầu gỗ cách Bàu Sấu chừng 500m)

Hơn tiếng đồng hồ đều bước ở tốc độ 15 phút/ 1 km, cả đoàn thấm mệt. Cũng may, khi có những bước chân vấp váp, va trượt trên đá và tiếng xuýt xoa bật ra thì chúng tôi đến cầu gỗ. Lĩnh thông báo đã đi được 4,5 km, chỉ còn non nửa cây số nữa là đến nơi. Mọi người phấn chấn hẳn!

RỪNG NCT 7

(Biển chỉ dẫn đã đến khu vực Bàu Sấu)

Qua tấm bảng chỉ dẫn này, đi tiếp một đoạn rừng thưa đầy lá đỏ rồi trèo hết con dốc nhỏ xíu quanh co chạy ngược lên đồi, chúng tôi hò reo sung sướng khi thấy mặt nước mênh mông xanh biếc mở ra trước mắt. Bàu Sấu đây rồi!

RỪNG NCT 26

(Bàu Sấu nhìn từ trên cao)

Song, để được chính thức được chạm tay vào tấm bảng cảnh báo “Đề phòng cá sấu” này và ngồi duỗi thẳng chân khoan khoái bên bờ đầm kia, chúng tôi còn phải đi men theo một đoạn dốc nhỏ, băng tiếp qua khu vực nhà công vụ và tháp canh của trạm Kiểm lâm Bàu Sấu.

RỪNG NCT 5

RỪNG NCT 25

Với diện tích gần 14 ngàn hecta, trong đó có hơn 151 hecta ngập thường xuyên và 5360 hecta ngập theo mùa, Bàu Sấu đã chính thức được ban thư ký công ước Ramsai tại Thụy Sỹ công nhận là khu Ramsai thứ hai của Việt nam có tầm quan trọng quốc tế. Đồng thời Bàu Sấu cũng là nơi được đánh giá có mức độ đa dạng sinh học rất cao với sự hiện diện của hàng ngàn loài động thực vật thủy sinh, sinh vật bán ngập nước, các loài chim quý có tên trong sách đỏ và đặc biệt là sự hiện diện của quần thể cá sấu Xiêm và thú móng guốc. (Thông tin theo Wikipedia). Thông tin biết qua là vậy, nhưng thú thực, từ sau vụ Vịnh Hạ Long được công nhận vào top 7 kỳ quan thế giới mới của tổ chức New7wonders và những ngộ nhận hài hước về giá trị của nó làm tôi không còn hồ hởi trước thông tin danh thắng này, di chỉ nọ của Việt Nam đã được đứng hàng thứ mấy của tổ chức nào hay công ước nào. Chỉ mong sao đằng sau những danh hiệu hay sự tôn vinh đáng được ghi nhận của Bàu Sấu, chúng ta sẽ có một cách đối đãi đúng mực với thiên nhiên.

Hơn 9h sáng, nắng chưa đến mức gay gắt nhưng đủ làm mắt lóa và mồ hôi nhỏ giọt. Chúng tôi ngồi chơi một lúc rồi men theo bờ đầm đi gần mép nước, cố gắng ngóng cổ tìm xem bên dưới những đám lục bình kia liệu bóng dáng cá sấu ở đâu nhưng cá sấu hoàn toàn bặt dạng. Lĩnh nói giờ này cá sấu sợ nóng nên nằm sâu dưới bàu, phải lúc sáng sớm và nhập nhoạng tối chúng mới ngoi lên kiếm ăn. Dân phượt thường đến Bàu Sấu vào buổi chiều hôm trước rồi đăng ký ở lại qua đêm ở nhà công vụ (đã được sửa sang thành nhà khách) với trạm kiểm lâm, hoặc thuê lều ngủ ngay ngoài bãi. Ban đêm họ sẽ có cơ hội được nhìn “những đốm mắt hỏa châu” từ dưới đầm trồi lên, và nếu may mắn, còn tận mắt chứng kiến cảnh sấu săn mồi!

Tôi thật sự thất vọng, rất thất vọng khi nghe Lĩnh nói như thế. Lỗi không phải ở Lĩnh, cậu chỉ là một hướng dẫn viên của khu lữ hành, Ngoài trách nhiệm đưa đón đoàn đi đến nơi về đến chốn, giữ an toàn trong quá trình tham quan và cung cấp thông tin quanh rừng sinh thái cho chúng tôi, những chuyện còn lại như thu xếp chuyến đi cho khách du lịch thế nào là phù hợp không phải là trách nhiệm của cậu ấy. Cái chính là phía bên công ty du lịch đã không nắm bắt được hết thông tin và cả hành trình của từng tour nhỏ lẻ trong tour du lịch trọn gói của họ. Giá họ nghiêm túc hơn một chút, tìm hiểu thông tin kỹ càng hơn một chút, có sự cập nhật rõ ràng một chút và có trách nhiệm khi xây dựng những tuyến du lịch tự chọn thì chắc chắn chúng tôi không có sự lỡ dỡ như khi đến đã thác Bến Cự mà lại hụt chuyến tham quan khu bảo tồn linh trưởng chiều qua, hoặc đến Bàu sấu mà không hề có cơ hội thấy cá sấu như bây giờ.

Biết tôi không vui, Lĩnh thật sự băn khoăn, sau cùng, cậu đề nghị chúng tôi nên thuê thuyền để đi dạo chơi trên đầm. Buổi sáng, giờ này việc dạo chơi trên đầm là thích hợp nhất. Không gian thoáng đãng, mặt đầm yên ả, và tuyệt nhiên không hề nguy hiểm nếu chúng tôi tuân thủ việc mặc áo phao, không đùa bỡn quá trớn và không cố tình nhảy xuống đầm tìm… sấu! Sau khi tham khảo ý kiến cả đoàn, chúng tôi quyết định thuê thuyền. Nếu không thấy sấu thì ít ra cũng có thể thấy được “cái gì đó” hơn là ngồi ngó lục bình trôi!

RỪNG NCT 8

(Thuê thuyền đi dạo trên Bàu Sấu)

Mỗi một chiếc thuyền nhỏ chỉ chở được tối đa 3 khách, người chèo thuyền là nhân viên kiểm lâm kiêm “hướng dẫn viên” tại chỗ.  Dù không qua trường lớp nghiệp vụ du lịch nào, nhưng các anh kiểm lâm ở đây rất có trách nhiệm với khách tham quan và những kiến thức các anh chia sẻ trong quá trình đi cùng thật phong phú, thú vị.

RỪNG NCT 1

“con xít thương ai lội sông lội sông tìm ai…”

Từ phía bên này Bàu Sấu, tôi chộp được hình ảnh chú gà nước đang kiếm ăn bên bờ cỏ lúp xúp đàng kia. Anh kiểm lâm đi cùng nói con gà nước chính là “con xít” trong bài dân ca bắc bộ Trống Cơm làm tôi muốn… ngã ngửa vì bất ngờ. Hóa ra cái con “xít” trong câu hát “Một bầy tang tình con xít ố mấy lội… lội… lội sông, ố mấy đi tìm em nhớ thương ai…” rộn ràng vui vẻ hay trong khúc ngẫu hứng sông Hồng ngọt ngào tình tứ “con sáo sang sông bạt gió, con xít thương ai lội sông lội sông tìm ai…” của nhạc sĩ Trần Tiến là con gà nước, có nơi còn gọi là con chim Trích chứ không phải là một lũ… con nít tóc bím trái đào, mặc yếm nắm tay nhau chạy tới chạy lui làm vũ đạo cho bài dân ca quen thuộc vẫn thường thấy trên tivi!

Sau chuyến đi thuyền trên hồ trời chúng tôi trở về luôn trong buổi sáng chứ không ở lại dùng cơm trưa ở Bàu Sấu dù Lĩnh nói các anh kiểm lâm trong này làm món ăn tươi và ngon hơn hẳn nhà hàng ngoài khu Du lịch. Thôi, hẹn lần sau vậy. Những gì chưa trọn vẹn lần này sẽ là cái cớ để chúng tôi còn quay lại lần sau, và biết đâu còn thêm vài lần sau nữa một khi lòng đã trở lại với rừng.

DSCN0167

(Cây bằng lăng tím trổ bông thắm một góc rừng)

Buổi chiều, chúng tôi nghỉ ngơi rồi thuê xe đạp cùng nhau đạp quanh quanh thư giản trong khu sinh thái, hủy luôn chuyến đi vào bản Tà Lài. Với tôi, những bản làng dân tộc không có gì xa lạ, còn với thằng bé, một buổi sáng với 15 km băng rừng đã quá sức với nó. Nếu được thu xếp hợp lý hơn thì dành thời gian để biết thêm nét văn hóa cộng đồng dân tộc S’tieng trong bản Tà Lài cũng tốt, nhưng chưa biết thì bản Tà Lài cũng… vẫn còn. Chả đến mức như ta vẫn nói về câu slogan quen thuộc trong ngành du lịch Việt Nam: “Đi nhanh đi trước khi người ta phá hết bây giờ…!”. Chắc chắn, sẽ còn nhiều dịp để mẹ con tôi cùng nhau chia sẻ những bước chân qua. Và đúng như vậy. Khi những dòng cuối cùng trong bút ký này dừng lại với một chút vui, một chút buồn, một chút chưa trọn đan xen thì Ly Vân bạn tôi vừa chia sẻ một thông tin khác thật thú vị. Đó là thông báo về chuyến đi tình nguyện chăm sóc rùa biển đẻ trứng ở Côn Đảo đã được khởi động và cập nhật. Một hành trình mới, những niềm vui mới, những thách thức mới và nhiều kiến thức mới đang rộng mở đón chờ phía trước.

Nếu có cơ hội, chúng tôi sẽ lại lên đường!

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Ta đến với rừng (P1)

“Ta đến với rừng đâu chỉ vì rừng xanh thơm hương

Ta đến với rừng đâu chỉ vì rừng mờ trong sương…”

Cat tien National park 3

Tôi được sinh ra ở cao nguyên, lớn lên cũng ở cao nguyên. 7 tuổi đã theo các anh chị vào núi Voi tìm hạt dẻ. 10 tuổi đã theo ba và các chú trong đội khai thác lâm nghiệp vào rừng Long Lanh, Đạ Sar, Đạ Chay hạ lán trại, đốt lửa đêm. 15 tuổi đã biết thế nào là cái giá con người ta phải trả cho câu chú “Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”. 30 tuổi cương quyết bỏ lại một thời tuổi trẻ nhiệt huyết cùng những cánh rừng thông bạt ngàn sau lưng, một mình ôm con trai về “vùng đất đỏ miền Đông” làm lại từ đầu. 10 năm ra đi, dù nhớ thương, xa xót trải dài theo từng giấc ngủ cũng không một lần ngoái đầu nhìn lại. Thế nên khi em dâu gọi điện hỏi tôi có muốn đi du lịch rừng Nam Cát Tiên với cả nhà không, tôi mất hơn 1 tuần để đấu tranh, tự vấn và quyết định: ĐI. Không những đi mà còn đưa cả con trai cùng đi để thằng bé được một lần chạm tay vào những tán lá biêng biếc trên đầu, được một lần đón tia nắng sớm rung rinh theo từng kẻ lá, được một lần hít thở cái nồng nồng của nhựa cây sau cơn mưa và lắng tai nghe tiếng tí tách cựa mình của côn trùng nằm trong thân gỗ mục. Từng ấy năm qua rồi, dù chưa đến mức “thương hải tang điền” thì mọi sự cũng đã nguôi ngoai. Đi thôi, chả còn ai, chả còn gì có thể làm lòng tổn thương như những ngày 20 tuổi đầy ước mơ, hoài bão ấy nữa rồi.

Thêm 1 tuần tìm hiểu cặn kẽ những thông tin cơ bản về tour du lịch sinh thái đã chọn, tôi ngồi lại “nói chuyện như hai người lớn” với con trai về du lịch trải nghiệm và cái gọi là tinh thần tự giác để thằng bé có quyền tự quyết đầu tiên trong đời. “Đi du lịch tự giác”, nghĩa là phải tự thu xếp, bảo quản, giữ gìn balo và vật dụng cá nhân của mình suốt cả hành trình. Nghĩa là phải bỏ bớt thời gian vui chơi, xem tivi hay đọc sách mỗi tối để theo mẹ đi bộ quanh công viên 10 vòng với cường độ cao để rèn luyện sức khỏe. Nghĩa là phải chấp nhận nắng nóng mưa lạnh, muỗi mòng đỉa vắt và thiếu thốn tiện nghi. Nghĩa là để có niềm vui phải tự đi tìm rất mệt chứ không phải ngồi trong nhà hàng rung đùi chờ hưởng thụ. Nhưng “Đi du lịch tự giác” cũng đồng nghĩa với việc được thấy thú rừng ăn đêm, thấy khỉ vooc chí chóe trong khu bảo tồn thiên nhiên hoang dã, thấy bươm bướm bay lượn rợp trời ven suối đầu nguồn và được làm nhiều thứ linh tinh vui vẻ như-mẹ-hồi-xưa.

Phải nói ngay từ đầu, con trai tôi là đứa vốn được mẹ chăm bẵm nên luôn có tâm lý thích hưởng thụ, ngại khó khăn và rất bảo thủ, ít chịu chấp nhận thay đổi theo tình huống nhưng bù lại nó lại là thằng bé rất cương quyết và có trách nhiệm với những gì nó lựa chọn. Vì vậy tôi yên tâm khi thấy sau buổi nói chuyện, thằng bé tự gọi điện thoại cho em dâu tôi hỏi đi hỏi lại về tour du lịch rồi lên mạng xem thêm hình ảnh, thông tin trước khi trịnh trọng thông báo: “Con quyết định đi rừng cùng mẹ.”

Thế là chuẩn bị.

Thế là mua sắm.

Thế là luyện tập.

Này là áo mưa và giày ba ta đi rừng. Này là vớ cao cổ và mũ rộng vành. Này là thuốc chống vắt và nhang trừ muỗi. Này là đèn pin, ống nhòm, bình trữ nước, thuốc đau bụng và cả… lương khô! Tất cả đã sẵn sàng. Đi thôi, ta cùng nhau đến với rừng…!

Lên đường… theo tour!

Bảo rằng “Du lịch tự giác” là để nâng cao y thức và tinh thần trách nhiệm cho thằng bé chứ cả gia đình vẫn đặt tour du lịch trọn gói của Công ty du lịch lữ hành Viettravel để có được một chuyến đi chu đáo, không phải lo thu xếp chỗ ăn chỗ nghỉ, lên lịch trình và có một sự hướng dẫn rõ ràng cùng dịch vụ chăm sóc cơ bản chứ không “phượt tự do”. Khi trong đoàn có cả thanh niên, phụ nữ, trẻ nhỏ, người già thì yếu tố an toàn phải đặt trên yếu tố phiêu lưu mạo hiểm.

Nam Cat Tien 41

7h sáng, cầu Sài Gòn đã thức giấc nhưng vẫn còn ngái ngủ, mờ hơi sương. Không kìm được ý muốn lưu lại hình ảnh tuyến đường cao tốc TP HCM – Long Thành – Dầu Giây hiện đại nhất Việt Nam hiện nay, tôi đưa máy ảnh lên và vô tình chụp lại được một bóng chim én bay qua ô cửa nhỏ. Tự nhiên, tôi hơi tiêng tiếc khi không bỏ thêm cuốn sách “Trên đường” của Jack Kerouac vào ba lô.

bến đò 1

11h trưa, cả đoàn chính thức giã từ nệm êm, máy lạnh và âm thanh hifi stereo để xốc balo, bước xuống bến đò. Bên kia sông Đồng Nai chính là rừng quốc gia Nam Cát Tiên u trầm đứng đợi. Khẽ chỉnh lại quai ba lo bị xoắn và sửa lại nón cho con, tôi bất chợt mỉm cười nhẹ nhõm khi nhìn thấy những bóng nắng đang nhảy nhót trên đôi má căng tròn măng tơ của thằng bé.

Chưa đầy 20 phút đi bộ từ bến đò đến khu trung tâm điều hành du lịch lữ hành mà ai cũng ướt mướt  mồ hôi. Cứ đồ rằng vào rừng thế nào cũng mát, không ngờ nơi đây nóng chả kém Sài Gòn. Cậu hướng dẫn viên chia cho mỗi người 1 cái quạt giấy “chính thức” và một cái “dự bị” rồi giải thích  đặc trưng của rừng quốc gia Nam Cát Tiên là rừng nhiệt đới nóng ẩm, độ ẩm trung bình lên đến 83,6% nên dù nhiệt độ chỉ dao động từ 26- 300C nhưng luôn làm người đổ mồ hôi và chóng mất nước. Nhìn chúng tôi vừa quạt vừa thở, cậu ta tính nói thêm gì đó rồi mỉm cười ái ngại, im lặng đi trước lấy phòng. Còn tôi, mãi đến nửa đêm hôm đó mới vỡ nhẽ ra cái cười của cậu. Thì ra, ở đây không chỉ nóng ẩm mà còn thường xuyên mất điện, cứ vài ba tiếng lại đột ngột cúp điện một lần nên quạt giấy hữu dụng chả kém gì quạt máy hay điều hòa nhiệt độ.

Khu du lich NCT

Làm thủ tục nhận phòng xong, cậu hướng dẫn viên đưa cả đoàn chúng tôi về khu nghỉ dưỡng mang tên Gõ Đỏ. Tôi rất ấn tượng và thú vị với cách đặt tên theo loài động thực vật quý như Voi, Gấu, Trĩ, Tê Giác… hoặc Mộc lan, Sa nhân, Bằng lăng, Hồng hoàng… cho các khu nhà nghỉ mini ở đây. Nó là tôi nhớ đến khu du lịch sinh thái Xanh ở Đà Lạt. Ở đó, người ta cũng không đánh số phòng mà đặt tên cho mỗi bulgalow theo tên của các loại hoa.

Sau khi đi một vòng chung quanh nhà nghỉ mini của mình ngắm no mắt những chùm Bằng lăng tím biếc và Kim phượng vàng rực đan xen, tôi quay vào phòng và đối diện với thực tế: phòng nhỏ xíu và cũ, gạch lát sàn thì lởm khởm, toilet vừa nhỏ vừa ẩm, dép nhựa trong phòng chiếc nọ chiếc kia, tivi không có remote, điều hòa không chỉnh được nhiệt độ! Quan sát xong căn phòng, tôi cố ý nhìn xem thái độ của con trai thế nào, dự định nếu thằng bé phàn nàn hay thất vọng tôi sẽ tìm cách giải thích cho nó hiểu ở một nơi xa xôi cách trở thế này thì đừng đòi hỏi nhiều. Nhưng trái với e ngại của tôi, thằng bé rất biết cách “nhập cuộc”. Sau khi cười khì khì vì cái lavabo trong toilet bị nứt ngang thân, cầm 2 tay nhấc ra nhấc vô như cục gạch, cậu chàng ngoan ngoãn cất gọn đồ đạc lên kệ rồi đi tắm. Tôi thở phào nhẹ nhỏm.

5km khởi động

RỪNG NCT 16

(Rừng bằng lăng soan)

5 km băng rừng đầu tiên bắt đầu từ trung tâm sinh thái, đi qua rừng Bằng lăng soan đến thác Bến Cự được khởi động sau buổi cơm trưa 2 tiếng. Đúng 2 rưỡi chiều, cậu hướng dẫn viên tên Lĩnh đón chúng tôi ở trung tâm điều hành du lịch. Sau 5 phút giới thiệu sơ qua bản đồ khu vực rừng nam Cát tiên và chặng đường sẽ đi, cậu cười hiền khô khi chúng tôi cứ phấp phỏng hỏi han đủ thứ về… vắt! Nhìn Lĩnh phom phom đầu trần, áo thun ngắn tay, giày ba ta trệt cổ thấp đế mòn vẹt tôi buồn cười nhìn lại cả đoàn áo dài tay, khăn quàng cổ, mũ vành, giày tất bít bùng hệt Ninja ra trận! Lĩnh bảo mới đầu mùa mưa, vắt chưa có nhiều lắm đâu làm tôi càng buồn cười. Chẳng biết mức đánh giá “không nhiều lắm đâu” của Lĩnh là bao nhiêu con vắt, nhưng thôi, “Quân tử phòng thân, tiểu nhân phòng bị gậy”. Sợ vắt thì chưa đáng để liệt vào hạng… tiểu nhân, nhưng đề phòng vẫn hơn. Gì chứ cái giống chả ra sâu chả ra nhộng, mình mềm mềm đen đen ẩn dưới lá mục, chỉ cần nghe mùi người là búng mình tanh tách, bám rất chặt để loe mồm ra hút máu trông gớm lắm, chả ai muốn dây vào!

Theo bước chân thoăn thoắt của Lĩnh, cả đoàn cũng bám sát nút. Nhờ luyện tập cả tháng trước đó nên hai mẹ con đi rừng rất thoải mái. Thi thoảng thằng bé lại len lén chen chân chạy lên đầu đoàn để nghe Lĩnh giới thiệu cây rừng cho rõ. Mỗi bước đi đều gặp bao điều hay. Cây mây gai thân cứng như chảo nhưng đọt non lại mềm ngọt nên cả người cả voi đều thích tranh ăn. Cây sa nhân lá hay nụ có nhiều tinh dầu rất thơm, người ta thường thu hoạch hạt sa nhân làm thuốc đau bụng. Cây si được mệnh danh là sát thủ ẩn mình vì nó luôn tìm cách mọc gần một cây chủ rồi vươn rễ quấn quanh thân cây từ từ siết cho cây chủ chết ngạt. Cây bằng lăng soan thân trắng mốc, cao lêu nghêu, hoa trắng nhỏ li ti rụng đầy cả một vạt rừng chứ không tím mềm như bằng lăng trên phố. Gỗ bằng lăng mềm, dùng chế tác đồ gỗ hoặc đóng vật dụng gia đình rất thuận tiện. Hàng năm, người ta phải đánh số tuổi cho cây bằng lăng soan để kịp thời khai thác, nếu không thân cây sẽ tự mục ruỗng rồi chết.

RỪNG NCT 19

(Cây Si cổ thụ đang dùng rễ bao cứng thân Bằng lăng)

RỪNG NCT 14

(Cây mây gai còn non)

RỪNG NCT 18

(Cây mây khổng lồ)

RỪNG NCT 15

(Đây là cây bằng lăng soan 6 ngọn nổi tiếng trong rừng đặc dụng)

RỪNG NCT 11

(Còn đây là cây Tung cổ thụ với gốc cây dài gần 20m)

Có thể nói cây Tung là biểu tượng của sự vững chải, trường tồn nên luôn được giới thiệu trong tour du lịch sinh thái rừng Nam Cát Tiên.

Thấy nhiều đoàn khách du lịch tranh nhau chụp hình phần rễ tung chạy ngoằn nghoèo trên mặt đất tôi tính đi vòng ra phía bên kia, tìm chỗ chụp vài tấm lạ lạ nhưng Lĩnh kịp nhìn thấy. Cậu kéo tay tôi, bảo nhỏ “Chị, dưới lớp lá mục bên kia nhiều vắt lắm, đừng qua.” Tôi nghe mà hoảng, bỏ ngay ý định tìm chỗ chụp hình.

Hơn 3h chiều cả đoàn đến thác Bến Cự.

RỪNG NCT 12

(Thác Bến Cự)

Nhìn mấy dòng nước nhỏ xíu chảy hiền lành qua bãi đá, tôi phải hỏi Lĩnh “cái này” là thác hay là suối. Lĩnh cười, bảo “Thác đấy chị” rồi chỉ tay lên phía đầu nguồn, nói tiếp “Mùa khô nên thác cạn nước, chị nhìn vậy thôi chứ vào mùa mưa, nước dữ lắm, năm nào cũng dâng tràn qua cả bãi đá chị đang đứng đấy.” Lĩnh làm tôi nhớ lại cơn bão Katrina điên cuồng năm 2005,  cả một vùng Nam Cát Tiên mênh mông phút chốc ngập chìm trong một biển bùn và nước. Không biết lúc đó Lĩnh đã làm hướng dẫn viên ở đây chưa, nhưng nhìn cách Lĩnh vừa dẫn đoàn, vừa thuyết minh, vừa luôn tay nhặt… rác trên đường, tôi thấy xót. Ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên của dân mình còn tùy tiện quá. Chỗ nào có người, chỗ đó có rác ! Chưa kể là phá, tiện tay thì phá thôi, chả phải vì cái gì cả. Không biết bao nhiêu vết dao khắc tên trên thân cây. Không biết bao nhiêu cành lá tươi non bị bẻ gãy ngang ném bừa ra đất. Không biết bao nhiêu đầu lọc thuốc lá còn cháy  ngun ngún cạnh vạt rừng khô. Chả dám nghĩ, cũng chả dám nói ra, song cứ kiểu đi du lịch phá hoại thế này thì bão Katrina chắc chắn còn quay lại…

RỪNG NCT 21

(Đường mòn xuống thác)

RỪNG NCT 13

(Dây rừng chằng chịt)

Bên kia thác Bến Cự là Trung tâm cứu hộ bảo tồn linh trưởng. Lĩnh nói chính cánh rừng bằng lăng chúng tôi mới đi qua là môi trường thuận lợi để nuôi sống linh trưởng, mà cụ thể là Vooc chân đen, vượn bạc má và Cu li. Tôi tiếc ngẩn ngơ khi biết hàng ngày vào 8h sáng và 2h chiều Trung tâm sẽ mở cửa để khách du lịch có thể tham quan. Giá biết trước điều này, hoặc phía công ty thiết kế lữ hành cho chúng tôi thêm thông tin thì ắt hẳn chuyến băng rừng này đã thêm nhiều ý nghĩa.

RỪNG NCT 17

(Trước cơn mưa rừng)

Gần 4h chiều, mây đen ùn ùn giăng kín cả một góc rừng. Lĩnh bảo mọi người nhanh chóng thu xếp quay về, có lẽ sẽ có mưa dông. Chúng tôi tức tốc lấy áo mưa bọc kín máy ảnh, vật dụng cá nhân cho hết vào ba lô, giày buộc rất chặt sẵn sàng cho việc băng rừng chạy mưa. Rừng sụp tối rất nhanh, cành khô rơi lộp bộp trên đầu, gió táp ràn rạt vào mặt càng làm bước chân chúng tôi thên vội vàng hối hả…

(còn tiếp)

_________

Ta đến với rừng (P2)

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Người thơ làng Quan Họ

làng quan họ

(Hình minh họa: internet)

Thế là tôi đã về đến miền quê quan họ!

Từ sân bay Nội Bài, đón Taxi xong, câu đầu tiên tôi nói với cậu tài xế: “Xe về Tiên Du, đi qua chợ Chờ và bến đò Lo thì nhớ dừng xe cho chị ngắm một chút nhé”. Cậu tài xế cười nhẹ “Vâng ạ! Chắc chị xa quê lâu ngày …?”Thế rồi biết tôi về Bắc Ninh cậu kể cho tôi nghe một thôi một hồi về những gì đã đổi mới ở “Quê mình”. Ôi! Biết nói sao với em, chàng thanh niên hiếu khách. Nơi đây phải là “quê mình” như em đang nghĩ. Tôi về đây vì một điều thiêng liêng không thể chối từ. Thế thôi…

Đang miên man suy nghĩ thì đột ngột em dừng xe. À, thì ra đây là chợ Chờ …

chợ chờ

 (Hình minh họa: internet)

Trông cũ, nhếch nhác và có chút gì đó u buồn đúng như cái tên “Chờ” vậy … Tôi nhìn quanh ngơ ngác… chung quanh đồng không mông quạnh, những thửa ruộng sau thu hoạch trơ gốc rạ sần xì, đất bạc màu vỡ toác, hai bên đường nhà cửa chắp vá lô nhô… vậy mà nghe câu thơ:

Chợ Chờ ai bỏ bùa mê
Díu dan quan họ bộn bề tháng năm
Chợ phiên hôm ấy hôm rằm
Ta về con mắt lá răm theo về

Tôi cứ ngỡ chợ Chờ cũng giông giống… chợ tình! Chợ Chờ đến đấy để chờ người thương! Nhìn quanh nhìn quẩn, tôi buộc miệng “Ơ, không phải về chợ Chờ để tìm người thương à em?” – Cậu thanh niên bật cười “Chị quên hết quê mình rồi, muốn tìm lại người xưa nhắn gửi đôi lời, không cứ phải vào chợ Chờ hay chen chúc hội Lim buông câu … tình bằng ngồi tựa giăng thanh …! Cái tình ấy, cái tâm ấy chị có thể được tìm thấy qua từng con chữ mộc mạc, đằm thắm, thậm chí rất táo bạo nhưng không bao giờ buông thả, lả lơi khắp những hội thơ dù lớn như hội thơ Nguyên Tiêu hay chỉ nhỏ xíu xiu với “hội thơ” bên chiếc chiếu trải ở góc vườn.”

Nghe cậu nói, tôi khẽ cười buồn. Ừ, có lẽ tôi đi xa, đi xa lâu quá mất rồi.

***

Về nhà, nhất quyết bỏ qua tiếng trống hội rộn ràng khắp nơi, tôi theo chân ông bác đi “Họp… thơ” đầu xuân với một sự thích thú xen lẫn hồi hộp. Phần ám ảnh câu trách nhẹ mà buồn của chàng trai xa lạ, phần có chút… tò mò vì nghe đâu “liền chị” của ông bác ngày xưa hình như năm nay có về Tiên Du thì phải!

hội lim 3a
(Hình minh họa: internet)

Qua chiếc cầu be bé, xinh xinh có cái tên rất… quan họ: Cầu Ngõ Trúc, tôi đã nghe giọng một cụ “MC” đang dẫn chương trình ngọt, mềm và ấm như rót mật vào tai:

…Con sông Cầu in bóng trăng thề
Người đi, người ở, người về với ai
Đợi chờ sum họp trúc mai
Duyên tình thêm thắm, huê nhài thêm hương
Để thôi chín nhớ mười thương
Đèn khuya vắng bạn, canh trường ngóng trông …
Vâng, thưa các cụ, các ông các bà cùng các anh chị gần xa, để thôi chín nhớ mười thương nên hội thơ xuân năm nay, chúng em lại vui mừng được đón những tấm lòng thơm thảo huê nhài …

Tôi quá ngạc nhiên khi thấy cụ MC ở tuổi 70 đang thánh thót, nền nã ứng tác từng câu từng chữ với lời chào hỏi, thưa gửi của người vào hội mà chẳng cần cầm giấy đọc qua lần nào …! Phải chăng ở vùng Kinh Bắc, từ khi mới được sinh ra, trẻ thơ đã được ông, bà, cha, mẹ hát ru bằng những làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào, da diết và cứ như vậy khi lớn lên lại tiếp tục yêu nhau, đến với nhau qua từng điệu hát, lời ca sâu đậm nghĩa tình nên chất thơ, chất nhạc, chất tình cứ tự nhiên thấm vào tiềm thức để mỗi lời nói ra đều như hát bằng cả tâm hồn…!?

Đang miên man với câu dẫn: Trăm khúc sông đổ dồn về một bến, anh chẳng yêu nàng anh đến mà chi đây… thì có tiếng lao xao của các cụ: “Ồ năm nay Người Đồng Kỵ, Đông Quan cũng tìm về với hội …” Ôi, lại một nét văn hóa ứng xử nữa! Ở đất này người ta không gọi những người đến với hội thơ hay hội hát giao duyên là “Ông A, Bà B” mà trân trọng gọi nhau là “Người”, thế nên mới có câu “Người ơi người ở đừng về” rồi lại “Người về buông áo em ra …”

“Người Đồng Kỵ, Đông Quan” ấy là một… người đàn ông trung niên nho nhã, đang ung dung cầm lấy micro, cất lời:

Thưa rằng:
Vì người lên phải sang sông
Vì duyên tìm khách má hồng kết duyên

Thế nên tôi đến đây, trước là để giao lưu cùng người, sau là để được … tìm lại tiếng hát năm xưa qua bài thơ “Tìm em ngày hội”

Anh biết tìm em nơi nao
Để cùng qua cây cầu Đá
Cửa Ngũ Long Môn còn đó
Dập dìu giờ bước ai qua?

Bây giờ em đang ở đâu
Có nhớ ngày này năm trước?
Gặp nhau bao lời hẹn ước
Mình về với hội … tìm nhau!

Hoàng hôn buông tím sắc chiều
Vấn vương, thuyền rồng cập bến
Quan họ buông lời âu yếm
Người ơi đành hẹn lần sau …

Tôi bất chợt nhìn ra cửa, thở dài – Đúng là hoàng hôn buông tím sắc chiều thật!

hội lim 1a
 (Hình minh họa: internet)

Trên sân gạch, một chị độ chừng ngoài 40 khăn nhung, áo thắm đang tiếp lời “Đành rằng … xin hẹn lần sau, thế nhưng xin thưa rằng quan họ có câu “Yêu nhau thì quyết sang đi, kẻo mai quá lứa nhỡ thì tại ai?”, rồi chị cất tiếng ngâm bài Tương tư:

Mưa bay bay bụi trắng trời
Đã làm lỡ hẹn một người tôi mong
Bảo là cách núi cách sông
Bảo là sấm chớp, bão bùng cho cam
Đằng này chỉ quãng đồng làng
Qua cầu Ngõ Trúc là sang đây rồi
Thế mà chả đến người ơi
Để mưa giăng mắc một trời tương tư …!

Sao tình người ở đây đằm thắm quá, chân tình quá! Thương nhau đến thế, chờ nhau đến thế và cũng giận nhau đến thế nhưng chỉ buông nhẹ một câu “đằng này chỉ quãng đồng làng…”, trách mà nghe như tiếng thở dài, hờn mà như còn dành cho nhau đâu đấy một lối Trúc xanh thăm thẳm, giận mà không hề đoạn tuyệt, ly bôi…

Tiếp lời chị, một người khác bước lên diễn đàn với bài thơ “Lỡ hẹn ca dao” bằng chất giọng đậm đà Kinh Bắc:

Lối mòn thường đến, ai vào
Bơ vơ lòng nhớ nơi nào, chốn xưa
Nơi em hong tóc ban trưa
Thơm hương hoa bưởi đong đưa, hai mình …

Mặc cho ồn ả, nín thinh
Để chờ tằm chín, chúng mình vương tơ
Nhớ em một chút thoáng vui
Vọng phu hóa đá, anh vùi hư không

Cứ rằng tri kỷ tri âm
Ai hay em đã ôm cẩm hoa phơi
Lối xưa ai đã rào rồi
Ca dao đứt mảnh, gió trời thoảng qua

Đường quen dẫn lối hai nhà
Còn con bướm trắng la đà ngày xưa?
Bỗng nghe … “…hà…hỡi…” giữa trưa
Tiếng ru hay tiếng gió mưa bão lòng …

Ông bác kể bây giờ người quan họ đã bỏ đi tục “Kết chạ” chứ ngày xưa liền anh, liền chị đi hát quan họ phải lập thành “bọn”, gọi là “bọn quan họ”, “bọn” quan họ đều phải kết bạn theo nguyên tắc “âm dương tương cầu”, nghĩa là bọn quan họ nam của làng này kết bạn với bọn quan họ nữ của làng kia và ngược lại. Khi quan họ đã kết “chạ” với nhau thì họ sẽ không được yêu nhau, lấy nhau, dù trong lòng có nảy sinh tình cảm. Một liền anh sánh đôi với một liền chị, nếu đã cùng kết chạ thì dù có đẹp đôi đến mấy, cũng chỉ là tình yêu quan họ chứ không được phát sinh tình cảm trai gái thông thường. Và khi ấy, lời hát sẽ rất tình, rất ngọt, mắt nhìn sẽ lúng liếng dao cau, tay giữ lấy tay với những nỗi niềm vấn vương, quyến luyến và tiếc nuối khôn nguôi… Đã là bạn cùng chạ có chuyện vui buồn họ đều chia sẻ như anh em một nhà, trừ duy nhất một chuyện mọi người đều giấu biệt nhau ấy là khi liền anh, liền chị lập gia đình, bởi vì trong quan họ luôn hiện diện một chữ TÌNH. Thế mới có một “Người Tiên Sơn” trong đêm hội thơ đứng dưới gốc khế già mà xót xa, tiếc nuối khi hay tin “… Em đã cầm bằng hoa phơi”

Tôi từng thầm trách tại sao người xưa đặt ra cái lề luật nghiệt ngã đến thế với các liền anh, liền chị: Yêu nhau mà không lấy được nhau, thề bồi mà không thành duyên phận thì có nỗi đau sánh bằng? nhưng bây giờ tôi đã hiểu ra chính nhờ cái lề luật nghiệt ngã đó mà quan họ bao giờ cũng trong sáng, cũng da diết, cũng sâu sắc, cũng níu náu đến nao lòng. Cuộc chơi quan họ là cuộc chơi không có hồi kết, giã bạn rồi hẹn bạn về trong tiết giêng hai lất phất mưa bay để cùng soi vào mắt nhau, trao gửi cho nhau những thăm thẳm ân tình… Và để giữa cuộc đời thường bộn bề lo toan, họ còn vẫn có một miền thương nhớ, một khoảng lặng riêng để gửi tấm nỗi lòng…

hat_doi_tren_thuyen
(Hình minh họa: internet)
***

Đêm, trời sâu, trong và lạnh. Mưa xuân lất phất trên đầu nhưng dường như tiếng hát, tiếng đàn, tiếng ngâm vẫn còn chưa muốn dứt. Vẫn còn giọng trầm, giọng đục ngân nga câu sông Cầu vẫn cạnh sông Thương, dòng trong dòng đục tơ vương đôi bờ…

(Trích Nhật ký ngày về)

CF&S
_________________

Ghi chú:

1. Vì hình ảnh đa phần chỉ mang tính cá nhân nên khi đăng bài tôi xin phép dùng hình từ internet để minh họa. Cám ơn tác giả ảnh rất nhiều.

2. Phần thơ in nghiêng trong bài ký được rút ra từ tập thơ làng Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh.

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Buôn Đôn, gần mà xa

Anh: Mùa đông này em muốn chúng mình đi đâu?
Em (bẽn lẽn): em muốn về quê anh!
(Anh cười lớn): Thế về quê anh rồi thì cưng muốn đi đâu nữa?
Em (cười): Em thích đi buôn Đôn, rồi đi hồ Lak, còn lại thì em… giao phó hết cho anh đấy…

***(Và cứ thế câu chuyện tiếp nối câu chuyện, tiếng cười cũng tiếp nối tiếng cười làm cả buổi sáng tinh sương đầu ngày chợt hóa lao xao…)
__________________________ 

cầu 1.jpg
(Dòng Serepok – ảnh CF-S)

1. Chỉ cần nghe anh hỏi “Cưng à, lên Daklak em thích đi đâu”, ngay lập tức, tôi đáp không do dự: “Cho em thăm Buôn Đôn” dù sau đó anh có ra sức thanh minh“Bản Đôn bây giờ chả có gì đâu em ạ”….!?

Tôi nghĩ có thể với người dân địa phương hay người quen thủy thổ núi đồi cao nguyên như anh, buôn Đôn chỉ là… buôn Đôn giống bao buôn làng nhưng với tôi thì khác. Ngay từ tấm bé câu hát “chú voi con ở bản Đôn, chưa có ngà nên còn trẻ con, từ rừng già chú đến với người, rất ham ăn với lại ham chơi…” cùng nhịp chân nhún nhảy, chiếc gùi đong đưa trong đêm lửa trại đã làm tôi ao ước có một ngày được đến bản Đôn nhìn tận mắt, sờ tận tay những chú voi con yêu yêu đang huơ vòi đùa nghịch… Rồi mươi, mười lăm năm sau, cô bạn thân cùng khoa sư phạm có dịp đi du lịch cùng trường cô ấy đến huyện Lắc, vừa về là rủ rỉ kéo tôi vào quán cafe, say sưa kể cho tôi nghe bao nhiêu chuyện lạ. Có một ngày đến bản Đôn thôi mà sáng thì vượt cầu treo, xuôi thuyền độc mộc qua sông Sê Rê Pôk, trưa ăn cơm lam-gà nướng, chiều tà cưỡi voi ngắm mặt trời lặn, đêm xuống nghe tiếng cồng chiêng rền vang thăm thẳm đại ngàn. Cô còn cười khúc khích, bảo đến buôn Đôn đúng mùa lễ hội nên còn được xem con gái Tây Nguyên… bắt chồng, y như chị em Hơ Nhí thúc voi đến tận sàn nhà bắt nghiến lấy chàng Đam San ấy.

Nghe như thế, làm sao không háo hức? Cho nên mặc kệ anh có xua tay, thuyết phục thế nào tôi vẫn quyết: “Phi bản Đôn … bất thành Daklak!”

cầu.jpg
(Cầu treo qua dòng Serepok – Ảnh Cf-S)

2. Một tuần sau, anh ra sân bay đón tôi cùng nụ cười ấm áp, vòng tay ôm chặt và ánh mắt chứa chan làm những nắng, những gió, những hanh hao bao ngày phút chốc nhòa đi, lấp lóa sau cái lạnh cuối đông…

Tháng 12, quỳ hoa vẫn còn nở rộ, khoe sắc cùng những cung đường xanh non đương lên màu lộc mới như thể thay tôi trả lời câu hỏi “Dã Quỳ ơi, 30 năm còn nở?” hôm nào.

Sau phút giây ùa vào nhau thật nồng nàn, chúng tôi lên xe, buôn Đôn thẳng tiến, để lại sau lưng phố núi một sáng “đầy sương” và cả những bước chân còn chưa kịp đi hết dăm phút để biết “trời đất thật hiền”. Để lại cả câu hỏi băn khoăn “Một ngày bên nhau, ngắn quá, biết mình có kịp về chốn cũ không anh…?” mấy phút trước còn long lanh tràn đáy mắt…

3. Ra khỏi thành phố, đường đất nhỏ hẹp dần. Những tàng cây xanh cho bóng mát cao sừng sững dần nhường chỗ cho cà phê, bắp ngô, khoai mì trải dài xa hun hút. Đất đỏ, bụi mù, lá khô cũng tung lên từng đợt theo vết bánh xe lăn. Tôi ngạc nhiên nhìn mỗi nếp nhà, sân bãi, ruộng vườn vuột qua tầm mắt. Buôn Đôn và những vùng ven Dalat nếu xét về địa lý có khi cách xa nhau đến gần 400 km, thế mà ở đâu cũng có nét hao hao tựa như nhau. Những tấm lưng sau chiếc áo hoa bạc màu gầy cong đang đều đều nhấp nhô tay cuốc, tay xới của các chị, các mẹ. Những nụ cười hồn nhiên và đôi tay nhọ nhem quệt ngang vầng trán đẫm mồ hôi của các em thơ. Trục đường chính vào vụ thu hoạch trải đầy cà phê và ngô sắn. Tiếng lục lạc của trâu bò trong dong gõ nhịp. Cả cái mùi hoi hoi, nồng nồng của đồng đất vừa qua mùa cày ải cũng giống nhau như thể được cắt ra từ cùng một bờ sông hay đồng bãi nào đó bao đời vẫn giữ vẹn an yên…

gùi.jpg
(Những chiếc gùi mang hình ảnh Tây Nguyên – Ảnh Cf-S)rượu.jpg
(…và rượu Amakong được bày bán chào mời – Ảnh Cf-S)​

Anh kể, buôn Đôn hay bản Đôn cũng chỉ là một. Do nằm giáp biên giới với Campuchia, lại là vùng đông dân tộc Ba Na, Ê Đê, M’nông và cả người Lào sinh sống nên nền văn hóa có sự pha trộn rất thú vị. Bản hay buôn đều có nghĩa là làng, còn “đôn” theo tiếng Lào nghĩa là đảo, nên “buôn đôn” hay bản đôn đều là nghĩ là “làng đảo” – vì buôn Đôn nằm ngay trên con thác 7 nhánh, bên kia là dòng Sêrêpôk chảy ngược từ đông sang tây đêm ngày cuồn cuộn, phía bên kia là rừng quốc gia Yok Đôn nên nhìn từ trên cao, cả buôn làng như hòn đảo nhỏ xanh tươi sống hiền hòa giữa đại ngàn trùng trùng điệp điệp. Tên là thế, ý nghĩa là thế nhưng buôn Đôn giờ không còn xanh tươi nữa. Du lịch chắp vá, đầu tư không đúng mức đã góp phần tàn phá thiên nhiên, biến buôn Đôn vốn hoang dã và xinh đẹp xa xưa thành một cô gái đua đòi, diêm dúa và rỗng tuếch… Nghe anh nói, nhìn anh cau mày, tôi lặng lẽ cười. Có lẽ, cái buồn bực của anh cũng giống cái ấm ức của tôi khi nghe du khách than phiền, châm biếm về thác Cam Ly hay dinh Bảo Đại ở Dalat. Càng yêu, càng thương, càng giận đây mà!

Sau hơn 50 phút đi xe, anh dừng lại, mở cửa, chỉ cho tôi thấy lăng vua voi Amakong nằm khuất lấp bên vệ đường. Ồ, thì ra ông nằm ở đây! Giữa trưa nắng gắt, ngôi mộ kẻ sọc xanh đỏ, chóp cao vút đổ bóng trùm lên cây cỏ hoang vu làm tôi không khỏi chạnh lòng nghĩ đến câu thơ lưu truyền “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu…” ! Một “danh tướng” lão luyện và lẫy lừng với biệt hiệu “Nghệ nhân săn voi giỏi nhất Tây Nguyên” như ông giờ cũng đã yên nghĩ ở đây, lặng lẽ, phôi pha như bao con người có tên và không tên khác, dù từ mộ ông ra đường lớn chỉ cách non chục bước chân…

nhà mồ Amakong.jpg
(Nhà mồ vua voi Amakong – Ảnh Cf-S)

Tôi không dám nói khi Ama Kông qua đời, Tây Nguyên coi như gấp lại trang sách đầy hào sảng về một thời săn voi kiêu hùng giữa đại ngàn, vĩnh viễn không bao giờ lặp lại như những trang báo đã viết về ông – ngày ông mất – nhưng đi sâu hơn vào buôn Đôn, tôi không khỏi ngậm ngùi nhìn những thớt voi già nua chân đeo dây xích đi đứng nặng nề, uể oải nhai chút cỏ khô, thỉnh thoảng lại nhúc nhích tấm thân lừ đừ vẫy đuôi đuổi muỗi.

Nghe nói hơn 10 năm nay buôn Đôn không có voi con bởi voi trưởng thành phải ra sức cùng người tham gia làm du lịch để xây dựng cuộc sống mới! Anh sĩ quan biên phòng đi cùng chúng tôi ngậm ngùi nói nhỏ “Rừng kiệt rồi, gỗ không cho chặt, voi không đi kéo gỗ, không đi thồ hàng thì phải đi làm dịch vụ, chở người để nuôi người nên chả còn sức đâu mà yêu đương, lấy gì sinh con đẻ cái, cứ đà này sẽ đến một ngày buôn Đôn cũng chỉ còn là huyền thoại, như huyền thoại về vua voi Amakong mà thôi”. Thật nao lòng!

Vẫn biết tự ngàn xưa, ở chốn đại ngàn voi với người là bạn, và còn hơn cả bạn. Khi voi mất đi, người ta làm ma chay, chôn cất, khóc than, đưa tiễn và lập cả nhà mồ cho voi như cho một thành viên trong gia đình về chốn vĩnh hằng. Vậy mà giờ đây từng con voi được mang ra mổ xẻ, tận thu cho đến khi sức voi cạn kiệt, thân voi gục xuống…

voi 1.jpg
(Voi già trong khu du lịch Bản Đôn – Ảnh Cf-S)

Mãi đưa mắt dõi theo hướng nhìn của một chú voi già trong khu du lịch, tôi không nhận ra anh đã đến bên tôi tự bao giờ. Ôm nhẹ vai, anh bảo bạn bè đang mời chúng ta lên lưng voi vượt thác đấy, em có dám đi không? Tôi cười… Chắc anh không biết, ngày xưa tôi đã từng cưỡi voi không cần bành và leo lên lưng voi từ chiếc vòi đong đưa vĩ đại chứ không phải leo bằng cách đạp lên chiếc móc sắc mà người nài voi đang giữ trong tay.

Hơn hai mươi năm trước, 5 anh chị em chúng tôi, những đứa trẻ thị thành lần đầu về Đa Me sống suốt mấy tháng hè với gia đình người dì họ xa của mẹ trong một bản làng pha trộn giữa người Kinh, người Thái, người Tày và người Mèo nằm lọt thỏm trong lòng chảo xanh tươi dưới chân núi Voi. Tôi chẳng biết người ta nuôi voi để làm gì, chỉ biết buổi sáng khi chúng tôi còn rúc mình cuộn tròn trong chăn ấm thì tiếng lục lạc dưới chân voi đã khua leng keng trên đường làng còn mỗi khi chiều về, khi ánh nắng bắt đầu nhạt màu và đám trẻ chúng tôi cũng đã bắt đầu thấm lạnh sau khi đùa nghịch chán chê bên bờ suối cạn thì cũng là lúc voi trở về làng. Cứ nhìn thấy những chấm xám lừng lững di chuyển từ phía rừng xanh và nghe tiếng tù và rúc lên âm âm vọng sâu vào thung lũng là chúng tôi chạy ào vào nhà, lựa những khúc mía ngon nhất, những lá khoai mì tươi nhất hay những quả xoài ngọt lịm cầm sẵn trên tay, đứng hai bên đường chờ đợi làm quà cho voi. Voi cũng quý trẻ con, nhìn thấy chúng tôi là khua vòi, giậm chân rối rít, mặc kệ anh nài voi thúc gót vào hông giục giã… Chủ nhật, chủ voi đi lễ nhà thờ thì voi cũng được nghĩ việc, tha hồ ở nhà đủng đỉnh, lim dim nhai cỏ ngọt trong sân. Ấy cũng là lúc chúng tôi bày trò làm nhà, đánh trận giả, chơi trốn tìm dưới chân voi hay bám vòi voi leo lên lưng, phất cờ lau hò hét…

voi.jpg
(Ngậm ngùi – Ảnh Cf-S)

Giờ đây, trước mặt tôi không phải là những chú voi cường tráng, chạy băng băng đầy hứng khởi trong tiếng cổ vũ náo nhiệt hay cuộn vòi đón lấy tấm mía đầy tình thương và sự thân thiện của trẻ con mà là những con voi già run run mệt mỏi chỉ muốn được tháo ách nghỉ ngơi. Làm sao tôi có thể gật đầu cho mình cái thú trèo lên mình voi, lắc lư vượt thác. Làm sao tôi có thể bắt con voi vừa ngật ngưỡng suốt một ngày quần quật lội suối vừa về đến sân đã phải bị đóng bành, lê chân đi “làm du lịch” dù tôi biết nếu tôi gật đầu, chiều nay chủ voi sẽ có thêm ít tiền trang trải và biết đâu, tối nay khẩu phần ít ỏi của con voi già sẽ có thêm bó mía nhỏ hay quả chuối, quả cam.

Nhẹ nhẹ lắc đầu, tôi tách mình ra khỏi anh, đi về phía chú bé Ê Đê đang đứng chơi dưới chân cột nhà sàn, đưa cho chú ít tiền nhờ chú mua giúp bó mía và quầy chuối mật gửi lại cho voi rồi cùng anh lên xe qua đồi Tâm Linh, để lại sau lưng một buôn Đôn về chiều vẫn còn rộn rịp khách du lịch và oi ả mùi mồ hôi người, mồ hôi voi cuộn lên trong nắng gió…

Cf-S

(Trích Nhật ký ngày về)

Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Trăng rằm phố cổ (3)

hoi-an-27
.
5. Đêm rằm phố cổ
.
Mùa thu năm 1998, theo ý tưởng độc đáo của kiến trúc sư Ba Lan Kazimier Kwiatkowski, người được xem như là “cha đẻ” của phố cổ Hội An ngày nay, thường được nhắc đến với cái tên Kazik, chính quyền Hội An bắt đầu tổ chức lễ hội “Đêm rằm phố cổ” đầu tiên kéo dài từ “thượng chùa Cầu đến hạ ông Bổn”. Trong đêm hội, từ 5 giờ chiều đến 10 giờ đêm, phố cổ Hội An sẽ tắt điện, chỉ thắp đèn lồng để ánh sáng lung linh của nến hòa cùng ánh trăng soi sáng sông Hoài. Nhiều hoạt động ca nhạc như hát bài chòi, hát bả trạo, hát bội, chơi nhạc cụ dân tộc trên đường phố và các trò chơi dân gian như thi đánh cờ tướng, thả đèn hoa đăng, chèo thuyền trên sông… được toàn dân sống trong phố cổ tham gia tái hiện lại để “ mỗi du khách đến Hội An vào dịp đêm rằm sẽ được sống trong một không gian đô thị từ những thế kỷ trước”.
.
Sự thành công của Đêm rằm phố cổ đã tạo nên một bản sắc Hội An mới rất riêng biệt, kết hợp với các chính sách hợp lý, sự năng động của chính quyền và ý thức tự giác đồng lòng tham gia bảo vệ phố cổ của người dân Hội An, ngày 1-12-1999 tại phiên họp thường niên lần thứ 23 ở Marrakesh (Maroc), Hội An được chính thức đưa tên vào danh sách Di sản văn hóa thế giới do Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO đề xuất… (*)
hoi-an-28
.
Buổi tối sau chuyến về phố cổ đầu tiên, anh gọi điện hỏi tôi đêm thứ 3 ở Đà Nẵng muốn đi đâu chơi để anh thu xếp thời gian. Ngay lập tức, tôi đáp “Em thích cùng anh về lại Hội An lần nữa”. Anh lặng im một chút rồi bảo “Nhưng từ Đà Nẵng tới Hội An phải đi hơn 30 cây số đấy em à …” Tôi cười nho nhỏ,“Thì anh hỏi nên em trả lời, em chỉ bào là em thích chứ em có đòi hỏi bất kỳ điều gì đâu”.
.
Hai hôm sau, anh về Đà Nẵng đưa tôi đi lang thang từ chùa Linh Ứng nằm tít trên bán đảo Sơn Trà cho đến tận đỉnh Bà Nà để tôi thỏa nguyện chạm tay vào cây đào chuông trồng trên núi Chúa. Hết một ngày mệt nhoài nhưng đầy cảm khái, chiều muộn, anh dừng xe trên cầu Thuận Phước, lặng lẽ nhìn tôi tháo bung mái tóc dài, thoải mái hít hà từng làn gió mát thổi lồng lộng từ phía sông Hàn… Một lúc sau, anh nói nhỏ “Lên xe đi em, về Hội An cho kịp…” rồi mở khóa, khởi động máy làm tôi không kịp phản ứng. Cứ ngỡ sau một ngày đưa tôi lên rừng xuống bể hơn trăm cây số, anh không đủ sức đi tiếp thêm 30 cây số để làm tôi thỏa nguyện “được cùng anh về thăm phố cổ”. Hơn nữa, ngay sau hôm đầu tiên về Hội An, tôi đã cùng Mai và mấy người bạn có chuyến quay lại đầy ngẫu hứng. Nói như thế, không có nghĩa lòng tôi không khao khát được chia sẻ với anh từng khoảnh khắc Hội An, nhưng … tôi lo anh mệt, lại có chút gì đó băn khoăn như thể tôi đang đòi hỏi quá nhiều. Song, anh là vậy. Những gì tôi muốn, chưa chắc anh đồng ý, nhưng anh sẽ không quên, không bao giờ quên. Anh lưu giữ tất cả ước mong, sở thích, niềm vui hay nổi buồn của tôi ở đâu đó trong bộn bề công việc của riêng anh để rồi một lúc nào đó rất bất ngờ – như lúc này đây – anh sẽ cố gắng thu xếp và thực hiện. Sau lưng anh, tôi xúc động áp khuôn mặt mình vào bờ vai hơi gồ lên vì tay lái, cố giấu đôi mắt đỏ hoe… Thành phố Đà Nẵng xanh thẫm, lênh loang ánh đèn màu vùn vụt trôi lui. Ráng chiều đỏ ối đua nhau dồn về phía trước…
.
Lúc này tôi mới kịp nhớ ra, tối nay 14 – đêm rằm!
hoi-an-29
.
Hơn 1 giờ chạy xe trên đường trường dài hun hút, gần 7 giờ tối anh và tôi mới vào phố cổ. Đêm rằm, phố cổ gần như lắng lại, sâu hơn và cũng mênh mông hơn. Không còn bụi bặm, không còn máy nổ, không còn khói xe. Khắp nơi đều là nến, là hoa, là đèn lồng theo bóng trăng xanh soi lên từng khung cửa hẹp. Đi bên anh, tôi yên tâm dạo chơi, thỏa sức ngắm nhìn không lo bị lạc, cũng chả phải bận tâm mình đang đứng ở góc đường nào. Mà thật ra có đứng ở góc đường nào thì cũng giống nhau thôi bởi trong đêm trăng, bóng tối và ánh nến đã làm khuất lấp đi tất cả sự nhận diện ban đầu, chỉ còn lại cái mơ hồ cùng những xôn xao như gần, như xa đang hòa quyện theo mỗi bước chân người…
.
Này thì là gánh hàng rong trên vai người mẹ trẻ.
hoi-an-30
.
Này thì là nét thư pháp mềm mại đọng lại hồn nhiên theo đôi mắt “cậu đồ”
hoi-an-31
.
Này thì là hai tiếng Faifoo – Hoài phố mà nhà văn Nguyễn Tuân đã từng thốt lên “Chao ôi, một phố Nhớ nằm bên sông Hoài, một thị tứ Chờ nằm bên cửa Đợi. Sao đất nước mình lại có những đại danh từ gợi cảm nhiều như vậy…?”
hoi-an-32
.
Này thì là “Hải café” – một trong những quán cà phê “mới” rất nổi tiếng đang cùng những “Cà phê Đạo”, “Cà phê Tiêu”, “Cà phê Chanh” vang bóng một thời làm nên danh hiệu “cà phê Hội phố”
hoi-an-33
.
Loanh quanh, loanh quanh khắp nơi cũng chỉ “ngõ nhỏ, tường hoa và mái ngói rêu phong. Giếng Bá Lễ, chùa Ông, đình Phô, hội quán” như trong lời bài thơ Anh muốn kể em nghe về Lai Kiều, Hội phố của tác giả trẻ Hưng Đại. Song, trong đêm rằm phố cổ đặc biệt này, không cần phải viện đến G. Apollinare hay Bùi Giáng mới nhận ra mùi hương thời gian đang hiện diện bởi bất cứ nơi đâu đi qua chúng tôi cũng có thể chạm tay vào mùi trầm lan tỏa trong không khí rất thơm, rất đượm, rất nồng, rất ấm. Và… thêm một điều khiến tôi không khỏi bị mê hoặc, quyến rũ đến mức phải dừng bước, níu tay anh ngoái lại kiếm tìm. Đó là thanh âm đặc biệt của sáo trúc, đàn bầu và đàn nguyệt đang hòa tấu bản La Cumparsita cùng với tiếng gõ thùng guitar tạo nên điệu tango kỳ diệu trước sân nhà cổ.
hoi-an-34
.
Kỳ lạ chưa, trong đêm trăng, từ mảnh sân nho nhỏ vang lên không phải câu hò “Đất Quảng Nam chưa mưa đã ngấm, chứ rượu hồng đào chưa nhấm đã say…” đậm chất huê tình của người Quảng Đà hay câu ca dao mộc mạc “Ai đi phố Hội chùa Cầu, để thương để nhớ để sầu cho ai …” vẫn luôn mặc định trong cái đầu bé nhỏ hạn hẹp ít chịu đổi thay của tôi mà chính là La Cumparsita nóng bỏng, say đắm, ngọt ngào của Gerardo Matos đang tuôn chảy tràn trề theo từng nhịp phách Hội An…
.
Sau phút giây chìm đắm trong dòng nhạc gipsy đầy ngẫu hứng, tôi chợt bừng tỉnh. Ở mảnh đất đầy những huyền tích này con giao long ngàn đời nay vẫn đang trầm mình bên cửa Hội, lưng uốn cong thành Lai Viễn Kiều hay giai thoại về công nương Ngọc Khoa xinh đẹp, con gái nuôi yêu dấu của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên kết hôn cùng Sotaro, vị thương gia mang dòng máu Samurai đến từ xứ sở Phù Tang vẫn còn trong sử sách. Tất cả đều in đậm sắc màu ôn nhu, giao hòa và đầy tình hữu hảo về văn hóa, tâm linh. Thế nên giờ đây La Cumparsita, Paloma hay Return to Sorrento có hòa tan một nhịp với tiếng sênh, tiếng phách và hương trầm đêm nay cũng chỉ là lẽ tự nhiên bởi cái gọi là Mélodie de Faifo đã nằm sâu trong tâm hồn người Hội phố…
.
Nhẹ ôm vai tôi, anh nói khẽ “Về thôi em, khuya rồi …”
.
Khuya rồi ư? Tôi cứ ngỡ rằng chúng tôi vừa mới đến đây thoáng chốc … Từng bước theo anh, chân tôi đi xa dần mà lời bài hát vừa nghe vẫn còn đang quấn quýt…
.
If you knew
That still within my soul,
I keep the love I had for you …
I know, if you knew
That I never forgot you
Returing to you pass, you would remember me …
Tell me, what have you done …? (**)
.
“Nói cho em biết đi, anh đã làm gì để em yêu anh nhiều đến thế?
.
Anh đã làm gì để tôi yêu anh nhiều đến thế ư? Anh đã làm tất cả! Hoặc như lúc này đây, anh không làm gì cả ngoài việc đang đi cùng tôi đi dọc sông Hoài, ngắm đèn hoa đăng từng chùm thả trôi mang theo những lời nguyện ước tốt đẹp về tình yêu, hạnh phúc và sự bình an…
hoi-an-35
.
Hội An, tháng 6/ 2014
Nhật ký ngày về
 *
_____________
Ghi chú:
(*) Có tham khảo tư liệu về Hội An và chương trình “Đêm rằm phố cổ” ở vi.Wikipedia
(**) Trích đoạn bản “La Cumparsita” bản dịch tiếng Anh của Enrique Maroni và Pascual Contursi trên trang web Đọt chuối non.
Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Đêm mơ Hoài Phố (2)

hoi-an-15
.
4. Đêm mơ Hoài phố
Tôi quay lại Hội An lần thứ hai vào chiều hôm sau bởi một lý do mà nếu nói ra thật không giống ai … Vâng, tôi quay lại không phải vì “tìm lại ngày xưa đã mất” như trong bài hát Đêm hội phố Hoài mà chỉ vì cái máy ảnh hết pin… !
.
Sau buổi chiều loanh quanh phố cổ, tôi tìm được ngôi nhà ngày xưa có giàn Liêm hồ đằng của Như, nhưng khi đưa máy ảnh ghi được đúng một tấm duy nhất thì máy báo … hết pin. Cảm giác hụt hẫng và tiếc nuối đan xen làm tôi ngơ ngẩn mất một lúc. Trời ơi, còn bao nhiêu điều tôi muốn ghi lại, muốn giữ lấy, muốn mang về, vậy mà…!

.

Trở về khách sạn, tôi đem nỗi thất vọng ấy kể với Mai, cô bạn cùng phòng. Mai cười lớn, bảo trong đoàn cũng có nhiều người “hết pin” giống tôi nên họ đang có ý sẽ thuê xe máy quay lại Hội An lần nữa. Tôi nghe xong liền rủ Mai đi cùng với mọi người cho vui. Mai đã chụp được rất nhiều ảnh đẹp về Hội An, hơn nữa cô ấy đã từng đến phố Hội đôi lần nên không cần quay lại, nhưng có lẽ vì yêu thích sự khám phá và tìm những trải nghiệm mới nên cô đồng ý.

.
Chiều hôm sau, sau chuyến đi Cù lao Chàm theo tour du lịch đã định, chúng tôi nhanh chóng về phòng chuẩn bị “phượt” Hội An lần nữa, nhưng thay vì đi bằng xe máy, tôi, Mai và thêm bốn người bạn đã quyết định thuê bao 1 chuyến taxi cả đi lẫn về với giá 550.000 đồng trong vòng 4 giờ đồng hồ để an toàn hơn. Lần này không còn mang tâm trạng kiếm tìm nên chúng tôi hòa vào phố cổ với tâm thế của những người trẻ để khám phá, trải nghiệm, vui chơi và lưu dấu hết mình!
.
Tới phố cổ, tài xế Taxi để chúng tôi xuống ở đường Phan Châu Trinh và hướng dẫn đường đi để chúng tôi có thể vừa dạo bộ vừa mua sắm hàng lưu niệm với cái giá mềm gấp vài lần so với những cửa hàng nằm dọc theo cổng chính. Tượng phật bằng đá Non nước, vòng tay, hoa tai bằng đồng, pha lê hoặc thạch anh nhiều màu giá chỉ vài chục ngàn được bày bán rất hấp dẫn và vui mắt. Thú bông handmade, quạt lụa, lồng đèn, móc chìa khóa bằng gỗ khắc cũng chỉ từ mười ngàn đến ba, bốn chục ngàn là có một món vừa đẹp vừa lạ làm quà tặng.
.
hoi-an-16
hoi-an-18
hoi-an-17
Qua khỏi chợ Hội An, theo lối vào phố cổ dành cho người đi bộ, chúng tôi băng qua cầu Cẩm Nam và thấy ngay con đường… ăn vặt nức tiếng với bánh đập, hến xào và chè bắp trứ danh ở ngay trước mặt. Lập tức, cả nhóm kéo nhau vào một quán nhỏ có treo đèn lồng trước giàn hoa giấy, háo hức gọi 2 dĩa hến xào, 6 phần bánh đập và 6 ly chè. Sau vài phút, hến xào nóng thơm nức đã được mang ra cùng 2 cái bánh tráng nướng theo kiểu Hội An, tuy nhỏ hơn, mỏng hơn và không nhiều mè như bánh đa bánh tráng vẫn bán dạo trong Nam nhưng lại rất thơm và đậm đà.
.
Theo thông tin tôi check từ hội “phượt Hội An” trên mạng, quán bánh đập – hến xào ngon nhất Cẩm Nam là QUÁN BÀ GIÀ nằm bên kia cầu chừng 200m. Quán chúng tôi vô không có … bà già nhưng chủ quán tiếp chúng tôi là một … ông già rất chất phác mà cũng vô cùng mến khách. Thấy chúng tôi xuýt xoa khen hến xào Cẩm Nam sao ngon quá, con hến nhỏ tí xíu nhưng lại bùi và ngọt rất lạ lùng, ông cười hiền rồi vô nhà mang ra cho chúng tôi xem mấy con hến còn nguyên vỏ, bé như hạt đậu xanh đựng trong cái chén đất, giảng giải Cẩm Nam là vùng đất rìa ngoài của phố cổ, nằm ngay trên khu đất bồi bãi phù sa ven sông Hoài, người dân ở đây nghèo, thường sống bằng nghề cào hến. Cũng may, trời không lấy hết của ai nên cho dân Cẩm Nam loại hến sông rất đặc biệt để chế biến món ăn. Từ ngày phố cổ trở thành điểm đến của khách du lịch, con hến Cẩm Nam cũng thành món … thoát nghèo khi được đưa lên làm đặc sản. Tôi thắc mắc hỏi ông “bí quyết” làm hến xào, ông nói muốn hến xào ngon phải có nước sông… Hoài và cọng rau răm mọc bên cồn Hến, chứ ở đâu cũng có hến, có mắm, có ớt chứ riêng gì Cẩm Nam. Câu trả lời của ông làm tôi cười tủm tỉm suốt bữa ăn…
.

hoi-an-19

.
Sau 2 dĩa hến xào, ông cụ bưng lên cho chúng tôi một chồng bánh tráng mỏng màu trắng, cứ hai bánh tráng lại kẹp 1 lớp bánh mềm như bánh ướt nhưng dẻo hơn nhiều và mấy chén mắm nêm pha ớt thật thơm, giới thiệu cách ăn bánh đập. Để ăn bánh, người ta phải đưa tay đập (hay chập) 2 miếng bánh tráng vào nhau nên có nơi gọi bánh đập là bánh chập. Ngày xưa, bánh đập không hẳn là món ăn vặt mà thực sự là món lót lòng hoặc bữa lỡ của người dân lao động mang theo khi làm đồng, kéo chài hay gánh gồng buôn bán. Tùy lúc, tùy điều kiện mà cái bánh đập có khi chỉ là cái bánh tráng nướng giòn kẹp thêm lớp bánh mềm chấm mắm thay cơm, có khi cầu kỳ quết thêm đậu xanh, hành mỡ, lại có nơi dùng bánh đập để xúc hến xào, đồ chua thành bữa ăn no. Riêng tôi, tôi thật sự mê chén mắm nêm ăn kèm bánh đập. Cách pha mắm nêm tôi vốn không lạ bởi mẹ tôi người miền Trung nên ngay từ nhỏ bà đã chỉ dạy tôi biết pha chế từ dĩa kho quẹt hay chén mắm ruốc, mắm nêm sao cho ngọt, cho đằm. Nhưng chén mắm được ăn bên cầu Cẩm Nam quả thật ngon quá. Biết là mắm mà khi ăn cứ mê mẩn như đấy không phải mắm bởi cái cay, cái ngọt, cái mặn hòa quyện thật vừa vặn, đủ đầy.
.
Kết thúc bữa ăn, mỗi người chúng tôi làm thêm ly chè bắp cho đủ món. Chè bắp ở đây hơi khác trong Nam vì nấu nhạt hơn, ăn với đá bào và không có nước cốt dừa nhưng tôi vẫn thích vì vị thanh mát của bắp non nấu cùng đường cát trắng rất dịu. Chúng tôi chỉ phải trả 170.000 đ cho cả bữa ăn rất ngon lành và no nê dành cho 6 người như thế nên vô cùng hứng khởi, nán lại quán mua thêm ớt tương, bánh đậu xanh khô và kẹo đậu phộng mà ông cụ mang ra mời chào. Sau này, khi về nhà, tôi vẫn tiếc vì sao hôm đó tôi chỉ mua có 5 hũ tương ớt mà không phải mười, hay thậm chí 50 hũ của ông nhỉ …!?
.
Ra khỏi quán ăn, chúng tôi vừa đi vừa ngắm lồng đèn và các dãy hàng bán hàng lưu niệm. Ví da, xách tay, giày dép, tranh đá, đồ gốm… thứ gì cũng tinh xảo khiến chúng tôi mê mẫn ngắm nhìn, lựa chọn.
.
hoi-an-23
hoi-an-22
hoi-an-21
 .
Qua khỏi chợ, theo đường Nguyễn Thái Học, chúng tôi tới nhà cổ Đức An. Buổi tối, các khu nhà cổ đều không mở cửa đón khách nên chúng tôi không vào được bên trong tham quan nên chỉ có thể đứng trước cửa ngắm nhìn và đọc những dòng thông tin của ngôi nhà cổ không chỉ mang giá trị kiến trúc mà còn là một trong những di tích lịch sử của Hội An. Được xây dựng từ đầu thế kỷ 19, nhà cổ Đức An ban đầu là nhà thuốc kiêm nhà sách, chủ yếu bán các loại sách cấm của hai nhà chí sĩ cách mạng Trung Hoa Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi … Chính vì yếu tố đặc biệt đó mà nhà sách Đức An là nơi thường xuyên lui tới của các nhà nho yêu nước kháng Pháp có tư tưởng tiến bộ, trong đó có hai ông Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng. Dần dần nhà sách Đức An là nơi gặp gỡ bí mật của các thanh niên trí thức yêu nước trong phong trào Duy Tân. Nhiều bài viết của cụ Phan Châu Trinh và các loại sách báo khác được xuất bản trong giai đoạn tiền khởi nghĩa kháng Pháp đã ra đời từ nhà sách đặc biệt này. Cuối năm 1927, nhà cách mạng Cao Hồng Lãnh người Quảng Nam đã chọn nhà sách Đức An làm nơi thành lập và hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Hội An. Sau gần 200 năm, nhà cổ Đức An vẫn giữ nguyên những giá trị văn hóa truyền thống trong từng đường nét kiến trúc bên ngoài và cái hồn lịch sử bên trong…
.
hoi-an-24
Mãi mê ngắm nhìn người ta bày cờ thế trước nhà cổ Đức An nên tôi lại lạc lần nữa. Chen chân giữa nườm nượp người và đèn hoa, tôi không thể nào tìm được nhóm bạn của mình đang ở đâu nên cứ theo tiếng trống tôi đi, qua nhà cổ Tấn Ký, nhà bào tàng văn hóa Sa Huỳnh, khu biểu diển nhạc cụ dân tộc rồi ra chùa Cầu … Ban đêm, chùa Cầu thực sự rực rỡ và mê hoặc khác hẳn vẻ cổ kính tôi đã nhìn thấy vào ban ngày…
.
hoi-an-25
Đứng ở chùa cầu gần 20 phút tôi mới gặp lại các bạn đang đi ngược tìm tôi. Thì ra nhóm bạn mê chơi trò đập nồi đất phía bên kia đường nên tôi không thấy. Kéo tôi qua bãi đất, cả bọn tưng bừng cổ vũ cho một cặp du khách “tây” trẻ đang bịt mắt đập nồi. Tôi vốn thuộc tuýp người đệ nhất kém định hướng nên không mê trò này, chỉ thú vị khi thấy dù là tây hay ta thì khi tham gia chơi cũng được đối xử công bằng như nhau, không vì tây mà bị tính tiền vé cao hơn, cũng không vì ta mà được ăn gian hay ưu ái. Tinh thần “fair-play” ấy, nhiều nơi khác tôi thấy không có được.
.
Chênh chếch mé bờ sông là khu vực hát bài chòi. Trước khi đi tôi và Mai đã hẹn nhau sẽ ghé qua xem người ta đánh bài chòi nhưng thời gian trôi qua nhanh quá. Ban đầu chúng tôi cứ ngỡ 4 tiếng đồng hồ là quá dư, nhưng trừ thời gian đi đường hết 80 phút, thời gian ăn uống 30 phút nên 2 giờ đồng hồ còn lại không đủ để chúng tôi vừa lang thang dạo phố mua sắm vừa tham gia vui chơi lại vừa đi nghe hát bài chòi. Những phút cuối cùng, chúng tôi đi như chạy cho kịp thời gian, bỏ lại sau lưng những tiếng cười vô tư thoải mái và lời hô từ đám hát “Chỗ mô vui bằng đất Hội An, chỗ mô thanh bằng Huế, bằng Hàn …” như khéo gọi mời của người phố Hội…
hoi-an-26
 .
Trích Nhật ký ngày về
***
__________
Ghi chú:
(*) “Chiều về Hội An, đêm mơ Hoài phố” – trích 1 câu trong bài hát Đêm hội phố Hoài của nhạc sĩ Nguyễn Duy Khoái.
Posted in LANG THANG DU KÝ, Đi và về

Chiều về Hội An (1)

hoi-an-1

Có một lần, tôi đọc được cái note rất ngắn (và có lẽ, rất hiếm hoi) của Như viết về Hoài Phố, Liêm hồ đằng và một tháng ba xao xác đợi chờ như thế này: “Tháng Ba, có một chiều ngồi bên sông Hoài, đung đưa chân và nghĩ xem anh đã từng đứng ở đâu khi nhắn cho em rằng “phố đẹp nhưng buồn lắm”. Uh, bây giờ thì em biết, phố đẹp nhưng buồn lắm. Có lẽ vì em đi một mình quanh phố. Những cây Liêm Hồ Đằng rậm rạp lá xanh sẫm màu và rễ của nó buông xuống kín như rèm che, như những cơn mưa bất tận phủ xuống con phố nhỏ hẹp này…”

Hoài phố có gì buồn? Liêm hồ đằng có gì đẹp? Và cả cái tháng ba ướt sũng nào đó có gì quyến luyến để Như phải viết thành cái note nhẹ tênh – như kiểu người ta vừa buông tay thả rơi một chiếc lá – mà lại ngậm ngùi làm vậy…?! Từ hôm đó, tôi âm thầm nghĩ nếu được về Hội An, giá nào tôi cũng đi tìm lại những dây Liêm hồ đằng cho Như dù rằng tháng Ba của Như đã lùi xa từ lâu lắm…

Giờ thì tôi đang có mặt tại Hội An. Và cũng giống Như, tôi đang “một mình loanh quanh trên những con đường nhỏ, lang thang qua phố xưa nhà cổ” ngước mắt ngắm nhìn những hàng dây xanh quấn quýt bò trên mái ngói âm dương hầu mong đâu đó sẽ buông lơi một bức mành quấn quýt như tơ, xanh rời rợi…

Tháng Sáu, Hội An không mưa. Đi đến đâu cũng thấy nắng và nắng; chỉ có điều, nắng phố Hội không gay gắt, đặc sệt bụi bặm như nắng Sài Thành mà lơ lửng giữ hoài sắc vàng phai, buồn buồn trườn qua các ô cửa nhỏ bên sông, kéo dài thành vệt chạy lan theo bờ tường, mái ngói rêu phong rồi rơi đầy theo từng bước chân qua. Giờ thì tôi tin người nào đó đã giữ tháng-ba-của-Như nói đúng. Phố đẹp nhưng buồn lắm…!

Bất giác, tôi ước ao được có anh bên mình, được nắm chặt bàn tay anh, được nghe anh thở, được thấy anh cười để cảm nhận hết những an yên khi đứng lặng ven sông, nghe câu hát vọng từ phố cổ “Chiều về Hội An, đêm mơ Hoài phố. Thấy bông hoa vàng rụng vỡ ven sông, mái rêu u trầm, nét hoa Kim Bồng… Lời người trăm năm xa xưa gửi lại…” [*]

Chiều Hội An không anh, tôi dừng bước giữa đông vui mà nghe lòng mình chống chếnh…!

2. Lang thang qua phố xưa nhà cổ

Đi hết con đường trải bê tông loanh quanh bên sông, tôi ghé lại trụ gác đầu tiên đọc phần hướng dẫn rồi quyết định mua cho mình chiếc vé vào cổng dành cho du khách thay vì cự nự, than phiền việc phải trả tiền “bảo tồn văn hóa phi vật thể” một cách vô lý khi vào phố cổ mà chính quyền Hội An đang áp dụng mấy tháng nay hoặc cố tình nhận mình là người gốc phố Hội để được tham quan miễn phí theo chính sách ưu đãi dân địa phương mà nhiều đoàn khách du lịch đang chỉ nhau thực hiện. Có thể là tôi dại dột khi tự nguyện bỏ ra 80.000 đ mua vé trong khi còn nhiều cách để vào phố cổ mà chẳng cần tiền. Có thể là tôi đang làm công việc đóng góp cho phố cổ rất “trời ơi” và vô ích nhưng làm sao có thể đành lòng bước vào Hội An với một tâm thức chối bỏ trách nhiệm rất hả hê, trong khi mỗi ngày từng ngôi nhà cổ ở đây đang phải gồng mình chịu đựng sự bào mòn, hủy hoại của mưa nắng thời gian?

hoi-an-2
Theo bản đồ chỉ dẫn in phía sau vé vào cổng, chùa Cầu nằm ở góc đường Nguyễn Thị Minh Khai – Trần Phú là điểm đến đầu tiên của hành trình tham quan.

Cô hướng dẫn viên mặc áo dài xanh đi theo đoàn thuyết minh với chúng tôi rằng Chùa Cầu hay còn gọi là chùa Nhật Bản – nằm trong khu phố cổ Hội An – do các thương gia Nhật Bản đến buôn bán tại Hội An xây dựng vào khoảng giữa thế kỉ 16 là một ngôi chùa đặc biệt, không dùng để thờ Phật mà để trấn yểm một loài thủy quái khổng lồ (người Việt gọi là con Cù, người Nhật gọi là Mamazu, người Hoa gọi là Giao Long). Họ tin rằng đầu con Mamazu gác lên Nhật Bản, đuôi cuộn ở Ấn Độ còn lưng vắt qua Hội An. Mỗi khi con thuỷ quái đó quẫy mình thì động đất, lũ lụt tràn về làm người dân sống hai bên bờ sông Hoài rất khổ sở. Vì muốn yên ổn buôn bán làm ăn nên người Nhật đã xây cầu trên sông Hoài và tin rằng cây cầu chính là cây kiếm đâm xuống sống lưng con thủy quái khiến nó không thể trở mình gây hại được nữa, đồng thời ở hai đầu cầu họ cho xây tượng Thân hầu (khỉ) đại diện cho năm xây dựng và Thiên cẩu (chó) để đại diện cho năm kết thúc công trình. Đến năm 1653, người ta dựng thêm phần chùa, nối liền vào lan can phía Bắc, nhô ra giữa cầu, từ đó người địa phương gọi là Chùa Cầu.

Gần 100 năm sau, năm 1719, Chúa Nguyễn Phúc Chu đến thăm Hội An, đi qua chùa Cầu và đặt tên Lai Viễn Kiều cho chiếc cầu, có nghĩa là chiếc cầu nối những người bạn từ phương xa đến thăm nhằm bày tỏ thiện chí và khuyến khích sự giao thương của người Việt với người Nhật và người Hoa ở Hội An. Sau nhiều lần trùng tu, gìn giữ, ngày nay chùa Cầu là biểu tượng văn hóa chính thức của Hội An.

hoi-an-3

Khi tôi đến chùa Cầu, đồng hồ chỉ gần 6 giờ chiều, nắng dần tắt, hai bên đường phố cũng đã lên đèn nhưng khách du lịch từ khắp nơi vẫn tấp nập vào ra chiêm bái. Sự chen chúc ồn ả trên cầu làm tôi rất khó lắng tai nghe được phần thuyết minh của người hướng dẫn viên về ngôi miếu nhỏ thờ thần Bắc Đế Trấn Vũ hay dừng chân nhẩn nha xem trọn dáng hình chữ CÔNG cùng những hoa văn, rường cột mang đậm chất Phù Tang đặc biệt của nó.

Theo dòng người, tôi đi xuôi về phía bên kia chùa Cầu, nơi đang có lớp lớp đèn hoa đăng giăng mắc và những ánh nắng cuối ngày rải đều như mật quyện…

Thật không hổ danh với sự xưng tụng của các giáo sĩ Phương Tây khi viết về một vùng đất trên bến dưới thuyền trù phú “bán buôn đa dạng các mặt hàng lâm, hải sản và hàng hóa thủ công từ yến sào, sừng tê, đồi mồi, ốc hương, ngà voi, tôm khô, trầm hương, kỳ nam, vây cá, đường tán, đường phèn, quế, tiêu, gạo, đậu… cho đến lưu huỳnh, diêm sinh, bạc thoi, kẽm, đồ sành sứ, vải nỉ, vải gấm nhiều màu, thuốc bắc, giấy, kim tuyến, thuốc nhuộm, y phục, giày dép, kính, pha lê, bút mực, đèn lồng, bàn ghế, đồ thiếc, trái cây khô…” và chất tài hoa, khéo léo của người dân phố Hội “Nhờ buôn bán, học hỏi với Trung Quốc, Phù Tang và các nước đàng ngoài mà các thợ thủ công tài hoa của vùng đất Quảng đã biết luyện vàng, làm đồ gốm, đóng thuyền, đóng ghe bầu, dệt được vải lãnh, the, lụa hoa hòe tinh xảo không kém gì lụa Quảng Châu”. Những góc phố tôi đi qua sáng rực bởi các mặt hàng thủ công mỹ nghệ mà nhiều nhất là quần áo vải vóc bằng tơ lụa, đèn lồng, giỏ xách, giày dép da làm thủ công, đồ gốm, tranh ảnh, hàng lưu niệm và những con giống bằng đất nặn.

hoi-an-11

hoi-an-4

hoi-an-5
Nghe nói nếu thích, khách du lịch có thể ghé lại các tiệm buôn vải, mua một khúc ưng ý và yêu cầu thợ cắt may cho mình một bộ quần áo hoặc dừng lại đo chân, đóng giày và lấy ngay trong ngày với một cái giá hết sức dễ chịu và sự phục vụ không thể hài lòng hơn được nữa. Tôi không có nhu cầu mua sắm nên không thử trải nghiệm nhưng cảm thấy vui khi nghĩ về sự nhạy bén và cung cách làm du lịch rất chuyên nghiệp của người Hội An. Giá mà sự chuyên nghiệp ấy được thể hiện ngay từ chiếc vé vào cổng để ai cũng có thể vui vẻ, tự nguyện đóng góp một phần cho phố cổ thay vì tìm cách lảng tránh, băn khoăn hay tranh cãi thì tốt quá.

Qua khỏi chùa Cầu chừng dăm chục mét, bên tay phải tôi là Nhà cổ Phùng Hưng. Nhìn những cánh cửa xếp nâu bóng và không gian cao lồng lộng mở ra bên trong tôi không khỏi bối rối… Như vậy là tôi đã lạc đường! Bởi trước khi vào phố cổ, tôi định sau khi thăm chùa Cầu sẽ qua đường Trần Phú, nơi tập trung những công trình kiến trúc điển hình nhất của Hội An để thỏa sức tìm hiểu, ngắm nhìn đồng thời vào tham quan hết cả 5 hội quán cổ kính và lớn nhất của người Hoa ở Hội An: Hội quán Quảng Đông, hội quán Trung Hoa, hội quán Phúc Kiến, hội quán Quỳnh Phủ và hội quán Triều Châu. Ấy vậy mà như thường lệ, tôi lạc đúng 180 độ, dừng chân ngay Nhà cổ Phùng Hưng theo hướng ngược lại…!

hoi-an-6
Nhưng đã đến thì vào. Tôi vuốt gọn áo váy, nhẹ chân bước qua ngạch cửa để tận mục sở thị không gian cổ kính của ngôi nhà Việt được xây dựng đầu tiên trên mảnh đất buôn bán sầm uất này. Thật sự, tôi không đủ kiến thức để hiểu hết nét đẹp và sự tinh tế của ngôi nhà cổ hình ống, mái lợp ngói âm dương nở ra bốn bên theo kiểu mái “Tứ Hải” hay những hành lang chạy dọc theo lối chữ cửu, chỉ cảm nhận trong một không gian rộng lớn, tất cả những rường cột, xà ngang, mái dọc và những hàng cột chính bằng gỗ lim đen bóng kia đang tạo thành một thế giới rất khác. Một thế giới mang đậm dấu ấn lịch sử và những câu chuyện làm ăn, khai khẩn miền đất đàng trong theo mùi hương trầm lan tỏa vào tận tâm tư người đang chiêm ngưỡng…

Ra khỏi nhà cổ Phùng Hưng, tôi không có ý định quay ngược lại vì nắng lúc này đã sắp tắt, nếu có tìm được đúng đường vào các hội quán như đã định thì cơ hội vào bên trong cũng không còn đủ thời gian. Thế nên tôi lang thang theo đường Nguyễn Thị Minh Khai ngắm đèn lồng và các quán gánh bán tào phớ, chí mà phù… đang bày bán san sát dọc theo vỉa hè.

hoi-an-7

Gần hết con đường, tôi bắt gặp một cửa hàng sách cổ. Nghĩ đến chuyện có thể tìm mua được cuốn sách hay món hàng nào đó đúng ý ngay trong hiệu sách cổ trên bờ sông Hoài thú vị quá nên tôi không thể không ghé vào. Ngoài khu vực bày bán đồ gốm Thanh Hà và những mặt hàng lưu niệm bằng mây tre gỗ lá, sách ở đây đa phần là sách văn hóa lịch sử, dư địa chí và ẩm thực; thật dễ dàng bắt gặp “Vespa du ký – từ Roma tới Sài Gòn” của Giorgio Bettinelli, “Hanoi stories” của Pam Scott, “Hành trình về phương Đông” của Blair T. Spalding hay cuốn “Secrets of Hoi An” của Carol Howland nằm bình yên bên cạnh “Vietnamese Home Cooking” của Charles Phan trong những kệ sách già trăm tuổi.

hoi-an-8

Không tìm được mấy cuốn sách muốn mua nên tôi ghé quầy lưu niệm chọn 2 đôi đũa ngà, một cặp chén kiểu bằng đất nung và CD “Bonjour Vietnam” của Phạm Quỳnh Anh rồi xin chị chủ hiệu sách cho phép chụp vài tấm ảnh…

3. Phố cổ lung linh


Thời gian lưu lại phố cổ của tôi dường như đang ra sức chạy đua cùng tiếng tik tak – tik tak của đồng hồ trong những cửa hiệu rực rỡ đèn hoa, nếu cứ đi bộ ngắm cảnh có lẽ đến đêm mai tôi mới dạo xong, thế nên tôi quyết định đón 1 chiếc xích lô với giá thỏa thuận 180.000đ để có thể “đi” hết một vòng quanh phố trước khi dừng lại ở quán cao lầu Trung Bắc thưởng thức ẩm thực “chính tông” phố Hội. Đúng ra, tôi rất ngại ngần khi chọn xích lô vì không quen cảm giác người nhàn nhã vắt chân ngồi ghế trước đưa tay chỉ chỏ nói cười, người gò lưng đạp xe ở phía sau liên tục dạ thưa, hướng dẫn nhưng trong phố cổ không có xe máy. Để giữ vẻ bình yên, cổ kính người dân ở đây chỉ đi bộ, đi xe đạp hoặc dùng xích lô mà thôi. Nhưng lên xe rồi tôi mới biết, các bác tài xích lô ở đây không chỉ là người lái xe đưa khách kiếm cơm mà còn là những đại sứ du lịch thiện chí thật sự. Các bác am hiểu quê hương mình, biết cặn kẽ về lịch sử những di tích phố Hội và có thể nói tiếng Anh, tiếng Pháp, hoặc tiếng Hoa, tiếng Hàn rất trôi chảy. Với sự chuyên nghiệp và tinh thần mến khách, bác tài xế chở tôi đã làm tôi vơi đi cảm giác e ngại ban đầu bằng những câu chuyện rất tự nhiên về gia đình, về nghiệp đoàn xích lô, về cái tên Faifoo cũng như những con đường loanh quanh phố cổ…

hoi-an-9

hoi-an-10

Ví như con đường nối từ chùa Cầu đến hội quán Triều Châu này đây, ngày xưa mang tên Rue du Pont Japonnais, tức là Phố Cầu Nhật Bản. Hoặc con đường Nguyễn Thái Học có Viện bảo tàng văn hóa dân gian từng được người Pháp đặt tên là Rue Cantonnais, tức là phố Quảng Đông hay đường Bạch Đằng chạy dọc bờ sông, đưa tôi ra bến đò ngày xưa người Hội An chỉ gọi là đường Bờ Sông mộc mạc, dung dị.

Trước khi trở về, bất ngờ tôi nhìn thấy góc đường mà Như đã từng chụp ảnh, nhưng những dây Liêm hồ đằng không còn nữa… Có lẽ, mỗi con người sinh ra chỉ có thể có duyên với một khoảnh khắc nào đó, tại một nơi chốn nào đó cùng với một người nào đó duy nhất của mình mà thôi. Khoảnh khắc của Như, kỷ niệm của Như sẽ mãi theo cơn mưa tháng Ba tưới xanh những dây Liêm hồ đằng ven sông Hoài. Còn tôi, khoảnh khắc của tôi ở đâu khi tôi vắng anh?

Phố Hội đêm nay không buồn, song, hình như chưa trọn vẹn..!

(Trích Nhật ký ngày về)

Chiều về Hội An, đêm mơ Hoài phố (Phần 2)

Đêm rằm phố cổ (Phần 3)
_______

Ghi chú:
[*] Chiều về Hội An, đêm mơ Hoài Phố – Trích lời bài hát Đêm hội phố Hoài, sáng tác Nguyễn Duy Khoái