PAPILLON – Người tù khổ sai [Henri Charrière]

9139723842_25ef6557c3

Tôi tin rằng nếu có ai từng đọc bộ Hồi ký “PAPILLON – NGƯỜI TÙ KHỔ SAI” của Henri Charriere, ắt sẽ không thể nào quên đoạn văn miêu tả buổi chiều trên đảo Saint-Joseph. Đại khái ông viết rằng cứ mỗi buổi chiều, khi bầu trời và mặt biển cùng hòa thành một khối đỏ rực là lúc tiếng chuông nhà thờ vang lên. Điều đáng nói ở đây là tiếng chuông nhà thờ! Vâng, tiếng chuông nhà thờ kinh dị, không mang lại cảm giác bình an hay cứu rỗi mà là tiếng gọi tử thần từ dưới đáy biển sâu – CÁ MẬP! Hàng đàn cá mập hung hãn cứ nghe tiếng chuông là đồng loạt trồi lên mặt biển, chờ đợi giây phút lao vào cắn xé thi thể các tù nhân … Đoạn văn ấy tuy rất ngắn nhưng chỉ một lần đọc thôi, suốt đời tôi không thể nào quên. Dù có nhắm mắt bịt tai tôi cũng hình dung ra cảnh những thi thể tù nhân bị cá mập dựng đứng, thịt rách tả tơi, trôi thẳng lừ dưới ánh chiều tà đỏ rực…

Rất kinh khủng…

Rất ám ảnh…

Có lẽ, cũng từ đó tôi sợ những tiếng chuông…?!

Tôi biết nỗi sợ ấy thật vớ vẫn, nhưng mỗi người đều có một góc khuất riêng, một nỗi sợ riêng, không làm sao lý giải cho rõ ngọn ngành được. Với các bạn tiếng chuông là một âm thanh bình thường, quá bình thường là đằng khác bởi ngày nào tai chúng ta chả bắt được vài chục lần nhịp chuông đổ. Thì đấy, tiếng chuông cửa, tiếng chuông điện thoại ngay sát bên ta, tiếng chuông của anh kem Wall thi thoảng vẫn dạo qua phố nhỏ ban chiều, rồi tiếng chuông gió, tiếng chuông khánh trên cỗ xe ngựa lóc ca lóc cóc… Có những tiếng chuông gợi và thơ, có những tiếng chuông vui cười rộn rã, có tiếng chuông u huyền trầm mặc, có tiếng chuông ở rất gần và cũng có tiếng chuông đâu đó xa xôi…

Cuoc-song-yen-binh-tren-vung-bien-Hai-Ly-Nam-Dinh-6

Tôi biết! Nhưng biết thì biết mà sợ thì cứ sợ. Bởi có những lúc giữa bốn bề đang im vắng mà sao tôi vẫn nghe tiếng chuông réo gọi đến hoa mắt, ù tai. Lại có lúc chung quanh tôi là biết bao người mà đâu đó – trong tận cùng thâm tâm – thoảng qua một tiếng chuông, rất mơ hồ, rất nhẹ, nhẹ đến mức rợn người… Và thỉnh thoảng thôi, rất bất chợt, như trưa nay, tôi vô cùng hốt hoảng bởi một tiếng chuông lạnh lùng, đường hoàng, riết róng từng tiếng, từng tiếng như nhắc nhở: Kìa, nhìn lại tôi ơi, có thấy không một buổi chiều đang đỏ ối sau lưng…!

Vâng, tôi gọi tiếng chuông vọng về đó là “Tiếng chuông Papillon” để nhắc nhở riêng mình…

– Cà phê và sách-

__________________

MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ 

Henri Charrière là tác giả cuốn hồi ký Papillon – cuốn sách bán chạy nhất năm 1970 – kể lại thời gian ông bị bỏ tù trên một nhà tù thuộc địa tại Guiana thuộc Pháp. Trong cuốn hồi ký ông đã ghi lại chi tiết các vụ vượt ngục, những âm mưu vượt ngục, những chuyến đi và những lần bị bắt lại từ khi ông bị tù năm 1932 tới lần đào thoát cuối cùng sang Venezuela. Tên sách lấy theo tên hiệu của Charrière, xuất xứ từ hình xăm một con bướm trên ngực ông (papillon là từ tiếng Pháp có nghĩa con bướm). Tính chính xác của câu chuyện đã bị nghi ngờ, nhưng ông luôn cho rằng, chỉ trừ vài sai sót nhỏ do trí nhớ, tất cả đều là sự thực.

Charrière sinh tại Ardèche, Pháp. Ông có hai chị gái. Mẹ ông mất năm 1917, khi Henri gần 11 tuổi, mười bốn năm trước khi ông bị kết án tù. Năm 1923, ở tuổi mười bảy, ông tham gia Hải quân Pháp, và phục vụ trong hai năm. Sau khi rời hải quân, Charrière trở thành một thành viên của thế giới ngầm Paris, lấy vợ và có một con gái. Ông đã bị kết tội giết hại một tên ma cô, Roland le Petit, bản án mà ông luôn cho là sai trái. Ông bị kết án lao động khổ sai suốt đời ngày 26 tháng 10 năm 1931. Ông phải rời bỏ gia đình, người vợ đang mang thai và con gái.

Sau một thời gian ở tù ngắn tại nhà tù chuyển tiếp Beaulieu tại Caen, Pháp, ông được đưa tới nhà tù St-Laurent-du-Maroni trên sông Maroni, nhà tù hình sự của Guiana thuộc Pháp.

Ngày 29 tháng 11 năm 1933, Charrière đã trốn thoát từ trạm xá tại Saint Laurent cùng hai bạn tù, Clousiot và Maturette, bơi thuyền dọc theo bờ biển qua Trinidad và Curaçao tới Riohacha, Colombia. Dọc đường họ được một nhóm người hủi (cũng là những tù nhân) trên Đảo Pigeon, một gia đình người Anh giàu lòng trắc ẩn và nhiều người khác giúp đỡ. Trong thời gian này, ba kẻ tù trốn trại khác gia nhập cùng với họ trong chuyến đi tới Colombia.

Thời tiết xấu khiến họ không thể rời bờ biển Colombia và đã bị bắt lại, tống vào tù. Charrière tìm cách bỏ trốn với sự giúp đỡ của một người tù già, và sau nhiều ngày đêm bỏ chạy, họ chia tay; Charrière lập tức quay về vùng Guajira. Tại đây ông sống nhiều tháng trong một ngôi làng của những người bản xứ làm nghề mò ngọc trai. Ông quan hệ với một phụ nữ trẻ và em gái của cô ta, cả hai sau này đều trở thành vợ ông và đều có con. Chính ở đây ông đã sống nhiều tháng sung sướng ở “hình thức thanh khiết nhất của tình yêu và cái đẹp.” Tuy nhiên, vẫn muốn sửa chữa sự bất công mà mình đã phải gánh chịu, cuối cùng ông ra đi về hướng tây.

Một lần nữa, Charrière bị bắt và bỏ ngục tại Santa Marta, và sau đó chuyển sang Barranquilla, nơi ông không ngờ gặp lại Clousiot và Maturette. Dù đã nhiều lần gắng vượt ngục (một trong số đó khiến ông bị gãy xương mu bàn chân và trở thành người có bàn chân phẳng), Charrière không thể thoát khỏi các nhà tù và bị đưa trả về Guiana thuộc Pháp năm 1934 cùng với hai bạn tù.

Charrière và các bạn bị kết án hai năm biệt giam, hình phạt được tù nhân gọi bằng tên “Kẻ nuốt tù nhân”, trên St. Joseph (một trong những Îles du Salut hay Đảo Cứu rỗi (Salvation Islands), bao gồm cả hòn đảo Royale và Devil’s Island) vì tội vượt ngục. Ông và hai bạn được thả ngày 26 tháng 6 năm 1936. Clousiot đã chết ‘chỉ vài ngày sau đó’. Sau khi được thả, Charrière bị giam trên đảo Royale….

Charrière bị kết án tám năm biệt giam nữa sau một âm mưu vượt ngục và tội giết một bạn tù vì người này đã ngầm báo âm mưu của ông. Tuy nhiên, ông được thả ra chỉ chín tháng sau đó, sau khi liều mình cứu một bé gái tên Lissette, đang sắp chết đuối khỏi vùng biển có cá mập. Ông được thả vì “các lý do y tế,” nhưng ông cho là do đã cố cứu bé gái.

Sau đó, Charrière giả điên (đã được xác định có các dấu hiệu đặc trưng được thể hiện bởi những ca bị điên như vậy) trong một nỗ lực trốn khỏi bệnh viện tâm thần trên đảo, nơi không bị canh gác chặt chẽ. Đây là thời điểm lý tưởng để bỏ trốn khỏi bệnh viện tâm thần bởi sau khi Thế chiến II bắt đầu, hình phạt cho những người tù bỏ trốn đã được nâng lên thành tử hình với án phản bội. Bởi bất cứ ai tìm cách bỏ trốn đều bị coi là bỏ theo quân địch. Một người điên được coi là người không kiểm soát được các hành vi của mình, vì thế sẽ không thể bị trừng phạt vì bất kỳ điều gì – kể cả việc bỏ trốn.

Âm mưu đã không thành, và người đi cùng Charrière đã chết đuối.

Năm 1945, Charrière định cư tại Venezuela, ông lấy một phụ nữ Venezuela tên là Rita. Ông có con với bà và mở một cửa hàng cùng các khách sạn tại Caracas và Maracaibo, trở thành một Đầu bếp tự học. Sau đó ông được coi như một người nổi tiếng, thậm chí thường được mời xuất hiện trên các chương trình TV địa phương.

Cuối cùng ông đã quay trở lại Pháp trong một lần về thăm Paris đồng thời với việc xuất bản cuốn sách về cuộc đời mình, Papillon, năm 1969. Cuốn sách đã bán được hơn 1.000.000 bản tại Pháp, khiến một vị Bộ trưởng Pháp đã nói tới “sự suy đồi đạo đức của nước Pháp” với những chiếc váy ngắn và Papillon.

Cuốn Papillon lần đầu xuất bản tại Anh Quốc năm 1970, qua bản dịch của nhà văn Patrick O’Brian.

Charrière đã đóng vai một tên trộm đá quý trong một bộ phim năm 1970 tên gọi The Butterfly Affair.

Ông cũng viết tiếp các phần sau cho Papillon, Banco, trong đó mô tả cuộc đời mình từ sau khi ra tù.

Năm 1973, cuốn sách Papillon của ông được chuyển thể thành phim Papillon của đạo diễn Franklin Schaffner, trong đó diễn viên Steve McQueen thủ vai ‘Papillon’. Dalton Trumbo là tác giả kịch bản, và chính Charrière đảm nhiệm vai trò cố vấn. Một cuộc phỏng vấn với Henri Charrière đã được đưa vào trong cuốn phim tài liệu, Magnificent Rebel, mô tả quá trình làm phim.

Ông mất tại Madrid, Tây Ban Nha vì ung thư họng.

(Nguồn thông tin từ http://vi.wikipedia.org)

____________________________

Papillon 1

Chương 1

– Con đường của sự thối nát
Nhà lao Conciergerie
-Nhà lao trung tâm Caen

Chương 2

– Lên đường
-Xuất phát
-Saint-Laurent Du Maroni

Chương 3

Vượt ngục lần thứ nhất
Đảo bồ câu
Giờ hoàng đạo
Trinidad

Chương 4

Vượt ngục lần thứ hai
Lại lên đường
Curacao
Nhà tù ở Rio Hacha
Trốn thoát khỏi Rio Hacha
Người Anh-dieng

Chương 5

Trở về thế giới văn minh
Vượt ngục ở Santa Marta
Những chuyến vượt ngục ở Baranquilla
Trở về trại khổ sai
Một người A-rập và đàn kiến
Cuộc vượt ngục của những kẻ ăn thịt người
Cuộc xét xử

Chương 6

Quần đảo Salut

Nhà giam cầm cố

Cuộc sống ở đảo Royale

Chương 7

– Chiếc bè trong ngôi mộ
Cầm cố lần thứ hai

Chương 8

Trở lại đảo Royale
Cuộc nổi loạn ở đảo Sant Joseph

Chương 9

Đảo Saint Joseph

Một cuộc vượt ngục của người điên

Chương 10

Đảo quỷ
Vượt ngục từ đảo quỷ
Trong rừng
Quých-quých

Chương 11

Từ giã nơi ngục tù

Chương 12

Georgetown
Gia đình Ấn Độ của tôi
Quán ăn và bướm
Quán tre
Trốn khỏi Georgetown

Chương 13

Nước Venezuela
Nhà lao El Dorado
Tự do

Advertisements